Hỏi & Đáp Nội tiết học lâm sàng, Ấn bản thứ 8 (2026). Endocrine Secrets Eighth Edition.
Copyright © 2026 by Elsevier Inc. Chủ biên: Michael T. McDermott. DỊCH VÀ CHÚ GIẢI: BS LÊ ĐÌNH SÁNG
Cuốn sách này được dịch và xuất bản trực tuyến trên các website yhoclamsang.net & sachyhoc.com của Thư viện Medipharm vì mục đích lan toả tri thức, hoàn toàn phi lợi nhuận.
CHƯƠNG 57. CHĂM SÓC KHẲNG ĐỊNH GIỚI CHO NGƯỜI BỆNH TRƯỞNG THÀNH CHUYỂN GIỚI VÀ ĐA DẠNG GIỚI
Gender-Affirming Care for Transgender and Gender-Diverse Adults
Micol S. Rothman; Sean J. Iwamoto
Endocrine Secrets, CHAPTER 57, 533-542
1. Bản Dạng Giới Là Gì?
Bản dạng giới (gender identity) đề cập đến giới tính bẩm sinh, tự nhận diện của một người (ví dụ: là nam, nữ, phi nhị nguyên giới [nonbinary], hoặc một giới tính khác) có thể hoặc không thể phù hợp với cơ quan sinh dục ngoài hoặc giới tính được ghi nhận khi sinh của họ. Người khác không thể nhìn thấy bản dạng giới.
2. Sự Khác Biệt Giữa Không Khớp Giới Và Bức Bối Giới Là Gì?
Không khớp giới (gender incongruence) được định nghĩa là tình trạng bản dạng giới và/hoặc thể hiện giới (gender expression) của một người khác với giới tính được ghi nhận khi sinh hoặc khác với những đặc điểm thường gắn liền với giới tính được chỉ định đó. Không phải ai có sự không khớp giới cũng bị bức bối giới (gender dysphoria) hoặc tìm kiếm dịch vụ chăm sóc khẳng định giới (gender-affirming care). Trong ấn bản thứ 11 cập nhật của Bảng Phân loại Quốc tế về Bệnh tật và các Vấn đề Sức khỏe Liên quan (còn gọi là ICD-11), không khớp giới đã được chuyển khỏi chương “Các Rối loạn Tâm thần và Hành vi” (Mental and Behavioral Disorders) và đưa vào chương mới “Các Tình trạng Liên quan đến Sức khỏe Tình dục” (Conditions Related to Sexual Health) nhằm xóa bỏ sự kỳ thị đối với những trải nghiệm liên quan đến người chuyển giới.
Bức bối giới (gender dysphoria) đề cập đến sự đau khổ và bất an liên quan đến tình trạng không khớp giới. Xem Bảng 57.1 để biết các thuật ngữ khác.
Bảng 57.1: Các thuật Ngữ
| Thuật Ngữ/Cụm Từ (Term/Phrase) | Định Nghĩa (Definition) |
|---|---|
| Hợp giới (Cisgender) | Một người có bản dạng giới và thể hiện giới phù hợp với giới tính được chỉ định khi sinh (tức là không phải người chuyển giới; ví dụ: phụ nữ hợp giới, nam giới hợp giới). Tránh sử dụng từ “bình thường” khi đề cập đến người hợp giới. |
| Thể hiện giới (Gender expression) | Các biểu hiện ra bên ngoài về giới tính của một người. Có thể hoặc không thể tuân theo các hành vi được xã hội định nghĩa và các đặc điểm bên ngoài mà trong lịch sử thường được coi là nam tính (masculine) hoặc nữ tính (feminine) (ví dụ: quần áo, kiểu tóc, đồ trang sức, tương tác xã hội, kiểu nói chuyện). |
| Phi nhị nguyên giới, linh hoạt giới, toàn giới, đa giới (Nonbinary, gender fluid, pangender, polygender) (và các thuật ngữ tiềm năng khác để mô tả sự đa dạng giới) | Những người có thể tự nhận diện và thể hiện bản thân vừa là nam vừa là nữ hoặc luân phiên, hoặc không phải nam cũng không phải nữ, hoặc như một giới tính nằm ngoài hệ nhị phân nam/nữ. |
| Giới tính được ghi nhận khi sinh (Sex recorded at birth) | Đề cập đến giới tính được ghi nhận khi sinh thường dựa trên cơ quan sinh dục (ví dụ: nam, nữ, hoặc liên giới tính [intersex]). |
| Xu hướng tính dục (Sexual orientation) | Sự thu hút về mặt thể xác, lãng mạn, cảm xúc, và/hoặc tinh thần mà một người dành cho một người khác (ví dụ: đồng tính nữ, đồng tính nam, dị tính, song tính, toàn tính, đa tính, hoặc vô tính). |
| Chuyển giới (Transgender) | Bao hàm những người có bản dạng giới và/hoặc thể hiện giới khác với giới tính được chỉ định khi sinh của họ; độc lập với quyết định liệu có sử dụng hormone khẳng định giới hay phẫu thuật hay không. Không nên sử dụng thuật ngữ “transgendered”. |
| Nam chuyển giới/Nam giới chuyển giới/Nam tính chuyển giới (Trans man/Trans male/Transmasculine) | Thường chỉ một người được chỉ định là nữ khi sinh và có bản dạng giới và/hoặc thể hiện giới là nam/nam tính. |
| Nữ chuyển giới/Nữ giới chuyển giới/Nữ tính chuyển giới (Trans woman/Trans female/Transfeminine) | Thường chỉ một người được chỉ định là nam khi sinh và có bản dạng giới và/hoặc thể hiện giới là nữ/nữ tính. |
Xã hội và y văn đang liên tục phát triển khi nhắc đến các thuật ngữ về chuyển giới và đa dạng giới (transgender and gender-diverse – TGD). Mặc dù danh sách đề cập ở trên chưa phải là toàn diện, nó đại diện cho một số thuật ngữ hiện đang được sử dụng trong thực hành lâm sàng. Ngành y tế đã có sự chuyển dịch nhằm hạn chế sử dụng thuật ngữ “từ nam sang nữ” (hoặc từ viết tắt “MTF”) để đại diện cho phụ nữ chuyển giới/người nữ tính chuyển giới và “từ nữ sang nam” (hoặc từ viết tắt “FTM”) để đại diện cho nam giới chuyển giới/người nam tính chuyển giới, mặc dù đôi khi những thuật ngữ này vẫn còn xuất hiện.
Điều quan trọng cần nhận thức là giới tính được ghi nhận khi sinh, bản dạng giới, và thể hiện giới không đồng nhất hoặc không thể hoán đổi cho nhau. Việc biết được bản dạng giới của một người, có thể hoặc không rơi vào hệ nhị phân giới tính truyền thống là nam hoặc nữ, không nói cho bạn biết xu hướng tính dục, hành vi tình dục, hoặc sự thu hút tình dục của người đó. Đừng đưa ra bất kỳ giả định nào, và hãy luôn hỏi người bệnh về tên cùng đại từ nhân xưng mà họ sử dụng.
3. Có Bao Nhiêu Người Chuyển Giới Và Đa Dạng Giới Đang Sống Tại Hoa Kỳ?
Trong lịch sử, rất khó để đánh giá tỷ lệ hiện mắc (prevalence rate) của bản dạng chuyển giới và đa dạng giới trong quần thể vì điều này đòi hỏi sự tự nhận diện. Nghiên cứu của Viện Williams năm 2022 ước tính có 1,6 triệu người trưởng thành và thanh thiếu niên tự nhận mình là người chuyển giới và đa dạng giới (tương đương khoảng 0,5% quần thể người trưởng thành và 1,4% quần thể thanh thiếu niên). Những hạn chế vẫn tồn tại liên quan đến việc tự báo cáo và các thuật ngữ được sử dụng, như đã lưu ý ở trên. Các nghiên cứu khác gợi ý rằng tỷ lệ hiện mắc của chứng bức bối giới ở quần thể cựu chiến binh Hoa Kỳ cao hơn so với quần thể chung và ở các nghiên cứu dựa trên khảo sát cao hơn so với các nghiên cứu dựa trên hệ thống y tế.
4. Tại Sao Bác Sĩ Nội Tiết Cần Được Đào Tạo Về Y Học Dành Cho Người Chuyển Giới Và Đa Dạng Giới?
Mặc dù nhận thức về đa dạng giới đã tăng lên đáng kể trong thập kỷ qua, các rào cản vẫn tiếp tục tồn tại trong việc chăm sóc sức khỏe cho các cá nhân chuyển giới và đa dạng giới (TGD). Trong Khảo sát Người Chuyển giới Hoa Kỳ năm 2022, với hơn 90.000 người trả lời từ cả 50 tiểu bang, 28% cá nhân báo cáo rằng họ không đến gặp bác sĩ khi cần thiết trong 12 tháng qua do chi phí và 24% cho biết họ không tìm kiếm dịch vụ chăm sóc do lo sợ bị đối xử tệ bạc. Việc tạo ra một môi trường chào đón cho mọi người bao gồm, nhưng không giới hạn ở việc giáo dục nhân viên y tế, xác định và sử dụng đúng tên cùng đại từ của người bệnh, lưu tâm đến thông tin sức khỏe được bảo vệ trên các biểu mẫu giấy và điện tử, cũng như thiết lập các cơ sở vật chất trung lập về giới.
Với kiến thức chi tiết về sinh lý học và quản lý hormone, các bác sĩ nội tiết có vị thế đặc biệt để cung cấp liệu pháp hormone khẳng định giới (gender-affirming hormone therapy – GAHT) cho người TGD. Một cuộc khảo sát năm 2023 tại Hoa Kỳ đối với các bác sĩ nội tiết kê đơn GAHT cho thấy hơn 30% người trả lời cung cấp GAHT cho hơn 100 người bệnh TGD và hơn 30% đã kê đơn GAHT trong hơn 15 năm. Kết quả cũng tiết lộ rằng hơn 40% người trả lời vẫn yêu cầu tài liệu đánh giá tâm lý xã hội từ một chuyên gia sức khỏe tâm thần trước khi bắt đầu GAHT. Hướng dẫn Thực hành Lâm sàng của Hội Nội tiết (Endocrine Society) năm 2017 khuyên rằng các chuyên gia sức khỏe tâm thần được đào tạo nên chẩn đoán bức bối giới/không khớp giới ở người trưởng thành đang tìm kiếm GAHT. Mặt khác, Tiêu chuẩn Chăm sóc của Hiệp hội Chuyên gia Thế giới về Sức khỏe Người Chuyển giới (World Professional Association for Transgender Health – WPATH) năm 2022, phiên bản 8, khuyến cáo rằng bất kỳ chuyên gia chăm sóc sức khỏe nào cũng có thể đánh giá người bệnh TGD về tình trạng bức bối giới/không khớp giới. Giới y khoa cần có thêm nhiều nghiên cứu về tác động của các đánh giá tâm lý xã hội đối với người bệnh trước khi khởi trị GAHT và các thực hành tốt nhất để điều chỉnh thực hành lâm sàng cho phù hợp với các khuyến cáo của hướng dẫn.
5. Những Sự Bất Bình Đẳng Về Y Tế Và Sức Khỏe Tâm Thần Nào Được Quan Sát Thấy Ở Người Chuyển Giới Và Đa Dạng Giới?
Sự bất bình đẳng về y tế và sức khỏe tâm thần tồn tại giữa những người TGD và người hợp giới (cisgender – biểu thị hoặc liên quan đến một người có cảm nhận về bản dạng cá nhân và giới tính tương ứng với giới tính được ghi nhận khi sinh của họ). Một nghiên cứu bệnh chứng (case-control study) sử dụng mã ICD-9-CM (Bảng Phân loại Quốc tế về Bệnh tật lần thứ 9 – Sửa đổi Lâm sàng) để nhận diện “người chuyển giới” ở các cựu chiến binh Hoa Kỳ từ năm 1996 đến năm 2013 đã tiết lộ sự bất bình đẳng có ý nghĩa thống kê ở các cựu chiến binh TGD liên quan đến bệnh trầm cảm, ý định tự sát, rối loạn stress sau sang chấn (posttraumatic stress disorder), rối loạn ăn uống, và các tình trạng sức khỏe tâm thần khác so với các cựu chiến binh hợp giới. Cựu chiến binh TGD cũng có khả năng mắc virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV), ngừng tim, bệnh lý mạch máu não, suy tim xung huyết, đái tháo đường, tăng cholesterol máu, tăng huyết áp, bệnh tim thiếu máu cục bộ, béo phì, và các tình trạng bệnh lý khác cao hơn so với cựu chiến binh hợp giới. Một nghiên cứu năm 2023 tập trung vào các cựu chiến binh lớn tuổi ≥65 tuổi, đã tìm thấy sự bất bình đẳng đáng kể về các yếu tố gây stress xã hội (social stressors) (ví dụ: các vấn đề xã hội/gia đình, thiếu quyền tiếp cận chăm sóc/phương tiện đi lại, bạo lực, và sang chấn tình dục trong quân đội) và các tình trạng sức khỏe (ví dụ: trầm cảm, bệnh Alzheimer, và ung thư) ở những cựu chiến binh TGD lớn tuổi so với cựu chiến binh hợp giới lớn tuổi. Thú vị là, các cựu chiến binh TGD lớn tuổi có khả năng lạm dụng chất gây nghiện và lo âu thấp hơn so với các cựu chiến binh hợp giới lớn tuổi.
Một nghiên cứu năm 2021 phân tích Khảo sát Sức khỏe Quần thể Người Chuyển giới Hoa Kỳ (TransPop) đã so sánh câu trả lời từ 271 người TGD (gần 50% ở độ tuổi 18–29) và 1162 người hợp giới (khoảng 20% ở độ tuổi 18–29). Những người bệnh TGD tham gia khảo sát có nhiều khả năng đánh giá sức khỏe của họ ở mức trung bình/kém và tự báo cáo tỷ lệ mắc HIV, khí phế thũng, rối loạn giấc ngủ, và loét dạ dày cao hơn so với người hợp giới tham gia khảo sát. Người TGD tham gia khảo sát cũng báo cáo tỷ lệ mắc cholesterol cao và đái tháo đường thấp hơn so với nhóm người hợp giới.
6. Các Tiêu Chuẩn Khuyến Cáo Để Bắt Đầu GAHT Ở Người Trưởng Thành Là Gì?
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ