Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Hỏi & Đáp Nội tiết học lâm sàng, Ấn bản thứ 8 (2026). CHƯƠNG 61. KHỐI U THẦN KINH NỘI TIẾT TUYẾN TỤY

24 phút đọc

Hỏi & Đáp Nội tiết học lâm sàng, Ấn bản thứ 8 (2026). Endocrine Secrets Eighth Edition. 
Copyright © 2026 by Elsevier Inc. Chủ biên: Michael T. McDermott. DỊCH VÀ CHÚ GIẢI: BS LÊ ĐÌNH SÁNG
Cuốn sách này được dịch và xuất bản trực tuyến trên các website yhoclamsang.net & sachyhoc.com của Thư viện Medipharm vì mục đích lan toả tri thức, hoàn toàn phi lợi nhuận.


CHƯƠNG 61. KHỐI U THẦN KINH NỘI TIẾT TUYẾN TỤY

Pancreatic Neuroendocrine Tumors
Michael T. McDermott
Endocrine Secrets, CHAPTER 61, 564-569


1. Khối U Thần Kinh Nội Tiết Tuyến Tụy Là Gì?

Các khối u thần kinh nội tiết tuyến tụy (pancreatic neuroendocrine tumors – PNETs) phát sinh trong tuyến tụy, thường gặp nhất ở các tiểu đảo Langerhans (Islets of Langerhans), và chiếm 1% đến 2% tổng số các khối u tuyến tụy. Các khối u thần kinh nội tiết tuyến tụy thường là loại không có chức năng (nonfunctioning), chiếm tỷ lệ 50% đến 75%, nghĩa là chúng không sản xuất hormone hoặc không gây ra hội chứng dư thừa hormone trên lâm sàng. Các khối u thần kinh nội tiết tuyến tụy có chức năng (functioning PNETs) mang tên gọi dựa trên loại hormone mà chúng tiết ra, bao gồm: u tiết insulin (insulinomas), u tiết gastrin (gastrinomas), u tiết glucagon (glucagonomas), u tiết somatostatin (somatostatinomas) và u tiết polypeptide ruột vận mạch (vasoactive intestinal polypeptide tumors – VIPomas). Các khối u thần kinh nội tiết tuyến tụy cũng có thể tiết ra hormone vỏ thượng thận (adrenocorticotropic hormone – ACTH), yếu tố giải phóng corticotropin (corticotropin-releasing factor – CRF) và yếu tố giải phóng hormone tăng trưởng (growth hormone–releasing factor – GRF) (Xem Hình 61.1).

Hình 61.1 Các khối u tế bào tiểu đảo tuyến tụy.

2. Người Bệnh Có Khối U Thần Kinh Nội Tiết Tuyến Tụy Không Chức Năng Thường Biểu Hiện Như Thế Nào?

Người bệnh thường tình cờ được phát hiện có khối u thần kinh nội tiết tuyến tụy không chức năng thông qua hình ảnh học ổ bụng chỉ định vì các lý do khác. Khi xuất hiện triệu chứng, các vấn đề khởi phát phổ biến nhất bao gồm đau bụng (35%–78%), sụt cân (20%–35%), chán ăn/buồn nôn (45%), vàng da tắc mật (17%–50%), xuất huyết trong ổ bụng (4%–20%) và sờ thấy khối u (7%–40%). Các bác sĩ ghi nhận tình trạng di căn (metastases) ở 32% đến 73% các trường hợp ngay tại thời điểm chẩn đoán. Những người bệnh có khối u thần kinh nội tiết tuyến tụy ban đầu được đánh giá là không có chức năng về sau vẫn có thể phát triển các triệu chứng do khối u bài tiết hormone quá mức.

3. Khối U Thần Kinh Nội Tiết Tuyến Tụy Thường Lành Tính Hay Ác Tính?

Các u tiết insulin thường là lành tính (benign), chiếm tỷ lệ 80% đến 90%, tuy nhiên tình trạng hạ đường huyết nghiêm trọng do tuyến tụy bài tiết quá nhiều insulin có thể gây tử vong. Các khối u thần kinh nội tiết tuyến tụy khác thường là ung thư ác tính/có khả năng di căn (malignant/metastatic), chiếm tỷ lệ 50% đến 80%. Chỉ số tăng sinh (proliferative index) bao gồm Ki-67 và số lượng phân bào (mitoses) đóng vai trò phân loại mức độ mô học của các khối u thần kinh nội tiết tuyến tụy (theo bảng phân loại PNET năm 2017 của Tổ chức Y tế Thế giới). Phân nhóm G3 (Ki-67 > 20%) là một dấu hiệu rất đáng lo ngại, đòi hỏi bác sĩ phải thăm khám chuyên sâu và theo dõi người bệnh chặt chẽ hơn.

4. Khối U Thần Kinh Nội Tiết Tuyến Tụy Có Liên Quan Đến Các Rối Loạn Nội Tiết Khác Không?

Các khối u thần kinh nội tiết tuyến tụy thường xuất hiện lẻ tẻ nhưng cũng có thể là một phần của các hội chứng u nội tiết di truyền (inherited endocrine tumor syndromes), chẳng hạn như hội chứng đa u tân sinh nội tiết típ 1 (multiple endocrine neoplasia type 1 – MEN-1), hội chứng Von Hippel Lindau (Von Hippel Lindau syndrome – VHL) và bệnh u sợi thần kinh típ 1 (Neurofibromatosis type 1 – NF-1). Các khối u thần kinh nội tiết tuyến tụy xảy ra ở khoảng 80% đến 100% người bệnh mắc hội chứng MEN-1, khoảng 20% người bệnh mắc hội chứng VHL và khoảng 10% ở những người mắc NF-1. Các khối u thần kinh nội tiết tuyến tụy cũng xuất hiện ở khoảng 1% người bệnh mắc bệnh xơ cứng củ (tuberous sclerosis).

5. U Tiết Insulin Là Gì?

U tiết insulin (insulinomas) là một hoặc nhiều khối u sản xuất insulin phát sinh từ các tế bào beta của tuyến tụy; bác sĩ lâm sàng cần phân biệt các khối u này với các rối loạn tăng insulin máu (hyperinsulinemic disorders) khác bao gồm: việc sử dụng insulin ngoại sinh hoặc sử dụng thuốc kích thích tiết insulin (insulin secretagogue) như sulfonylurea hay meglitinide, chứng tăng sản tế bào tiểu đảo tụy (islet cell hyperplasia), hội chứng hạ đường huyết do tụy không phải u tiết insulin (noninsulinoma pancreatogenous hypoglycemia syndrome – NIPHS), hạ đường huyết sau phẫu thuật nối tắt dạ dày (postgastric bypass hypoglycemia – PGPH) và bệnh tân sinh tế bào tiểu đảo tụy (nesidioblastosis – sự tăng sinh mới của các tế bào beta dọc theo các ống tụy).

6. Tam Chứng Whipple Là Gì?

  • Hạ đường huyết (được ghi nhận ở mức < 55 mg/dL [3.0 mmol/L])
  • Xuất hiện các triệu chứng trong cơn hạ đường huyết
  • Thuyên giảm các triệu chứng khi bác sĩ điều chỉnh ổn định tình trạng hạ đường huyết

7. Các Triệu Chứng Của Hạ Đường Huyết Là Gì?

Tình trạng hạ đường huyết phân loại theo loại triệu chứng và mối liên hệ với các bữa ăn. Các triệu chứng thiếu glucose não (neuroglycopenic symptoms) như lú lẫn, nói nhịu, mờ mắt, co giật, hôn mê xảy ra do não không được cung cấp đủ glucose. Các triệu chứng giao cảm (adrenergic symptoms) như run rẩy, vã mồ hôi, đánh trống ngực, buồn nôn xảy ra do cơ thể giải phóng catecholamine. Các triệu chứng xuất hiện trong vòng 4 đến 5 giờ sau bữa ăn mang tên gọi là triệu chứng “sau ăn” (postprandial); những triệu chứng xuất hiện muộn hơn 5 giờ sau bữa ăn mang tên gọi là triệu chứng “lúc đói” (fasting). Các u tiết insulin thường gây ra tình trạng hạ đường huyết lúc đói nhiều nhất (73%), nhưng người bệnh cũng có thể trải qua cả hạ đường huyết lúc đói và sau ăn (21%) hoặc hạ đường huyết thuần túy sau ăn (6%).

8. Khuyến Cáo Đánh Giá Nào Để Phát Hiện U Tiết Insulin?

Việc lấy mẫu máu trong một đợt hạ đường huyết được chứng kiến trực tiếp mang lại giá trị chẩn đoán rất lớn, nhưng thông thường, các bác sĩ phải tái tạo lại các điều kiện gây ra tình trạng hạ đường huyết. Phương pháp phổ biến nhất để thực hiện điều này là yêu cầu người bệnh nhịn ăn kéo dài (nhịn ăn 72 giờ có giám sát hoặc nhịn ăn 12 đến 18 giờ ngoại trú để sàng lọc). Người bệnh chỉ được phép uống các loại đồ uống không chứa calo và không chứa caffeine. Nhân viên y tế lấy máu mỗi 6 giờ cho đến khi mức glucose giảm xuống < 60 mg/dL [3.3 mmol/L], sau đó tiến hành lấy máu mỗi 1 đến 2 giờ. Lượng máu lấy ra phải đủ để đo lường nồng độ glucose, insulin, c-peptide, proinsulin và beta-hydroxybutyrate; kỹ thuật viên đo lường glucose ngay lập tức trên tất cả các mẫu, trong khi các xét nghiệm khác chỉ thực hiện trên các mẫu có mức glucose < 55 mg/dL [3.0 mmol/L]. Bác sĩ chỉ định định lượng kháng thể kháng insulin và tầm soát sulfonylurea cùng meglitinide trong huyết thanh hoặc nước tiểu trên một mẫu duy nhất. Thử nghiệm kết thúc khi các triệu chứng điển hình xuất hiện cùng lúc mức glucose < 55 mg/dL [3.0 mmol/L] (nếu tam chứng Whipple đã được chứng minh trước đó) hoặc < 45 mg/dL [2.5 mmol/L] (nếu tam chứng Whipple chưa được chứng minh trước đó) hoặc khi kết thúc khoảng thời gian 72 giờ. Khi kết thúc thử nghiệm, bác sĩ tiêm tĩnh mạch 1 mg glucagon cho người bệnh và tiến hành đo glucose vào các thời điểm 10, 20 và 30 phút sau đó.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ