Ngoại khoa Căn bản: Vấn đề, Chẩn đoán và Quản lý, ấn bản thứ 7 (2026)
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 7th Edition
Biên tập viên chính: Clive R. G. Quick, Suzanne Biers, Tan Arulampalam, Philip J. Deakin
Dịch & Chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng – (C) 2026 Elsevier
CHƯƠNG 20. BỆNH SỎI MẬT VÀ CÁC RỐI LOẠN LIÊN QUAN
Gallstone diseases and related disorders
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 20, 340-352
Giới thiệu
Sỏi mật và các rối loạn liên quan chiếm phần lớn các bệnh lý đường mật ở hầu hết các quốc gia. Bệnh sỏi mật còn được gọi là cholelithiasis (sỏi túi mật). Choledocholithiasis (sỏi ống mật) là thuật ngữ dùng khi có sỏi hiện diện trong các ống mật.
Hầu hết các bệnh lý liên quan đến sỏi mật biểu hiện bằng triệu chứng đau, điển hình khu trú ở vùng thượng vị hoặc vùng hạ sườn phải (phần tư trên bên phải hay RUQ). Tính chất cơn đau thay đổi, nhưng trong đa số trường hợp là đau cấp tính và ngắt quãng. Ít gặp hơn, bệnh sỏi mật biểu hiện bằng đau kèm vàng da do viên sỏi di chuyển vào và gây tắc nghẽn ống mật chủ.
Cấu trúc và chức năng của hệ thống đường mật
Mật tập trung trong các vi quản mật nằm giữa các tế bào gan và đổ vào các ống thu nhận bên trong các khoảng cửa (portal triads) để đi vào hệ thống ống dẫn trong gan. Các ống này tăng dần kích thước cho đến khi trở thành ống gan phải và ống gan trái; hai ống này hợp nhất tạo thành ống gan chung. Ống gan chung đi xuống dưới, hợp lưu với ống túi mật (cystic duct) để tạo thành ống mật chủ (Hình 20.1). Ống mật chủ dài 4-5 cm, đi xuống phía sau tá tràng, sau đó xuyên qua đầu tụy để đổ vào thành trong của phần thứ hai tá tràng qua bóng Vater (ampulla of Vater). Trong hầu hết các trường hợp, ống tụy chính hợp lưu với ống mật chủ tại bóng Vater, mặc dù nó có thể đổ vào tá tràng một cách độc lập. Cơ vòng Oddi nằm trong bóng Vater ngăn sự trào ngược của dịch tá tràng vào ống mật chủ và ống tụy.
Túi mật (Gall bladder) là một túi cơ được lót bởi lớp niêm mạc đặc trưng gồm một lớp tế bào biểu mô trụ cao gấp nếp mạnh. Lớp biểu mô lót này được nâng đỡ bởi mô liên kết lỏng lẻo chứa nhiều mạch máu và mạch bạch huyết. Các tuyến tiết nhầy được tìm thấy ở cổ túi mật nhưng không có ở thân và đáy túi mật. Phần gần của ống túi mật được sắp xếp theo hình xoắn ốc gọi là van xoắn (spiral valve), chức năng của nó vẫn chưa được hiểu rõ. Túi mật nằm trong một hố có hình dạng thay đổi ở mặt dưới của thùy gan phải và được bao phủ bởi lớp phúc mạc của gan. Ống mật chủ là một ống mô xơ được lót bởi lớp biểu mô trụ đơn cao. Bình thường, nó có đường kính lên đến 0,6 cm (6 mm) và có thể đo được trên siêu âm.
Mật được gan sản xuất liên tục và đi theo đường mật đến túi mật, nơi nó được dự trữ. Tại đây, mật được cô đặc gấp 10 lần thông qua quá trình tái hấp thu nước chủ động qua niêm mạc. Thức ăn giàu lipid đi từ dạ dày xuống tá tràng sẽ thúc đẩy các tế bào nội tiết của niêm mạc tá tràng bài tiết hormone cholecystokinin-pancreozymin. Hormone này kích thích co bóp túi mật, tống mật vào tá tràng. Muối mật (axit mật) đóng vai trò là chất nhũ hóa và tạo điều kiện cho sự thủy phân lipid trong chế độ ăn bởi các men lipase của tụy. Nếu tắc nghẽn đường mật ngăn cản mật xuống tá tràng, lipid sẽ không được tiêu hóa cũng như không được hấp thu, dẫn đến việc đi ngoài phân mỡ (steatorrhoea) lỏng, nhạt màu và hôi thối. Hơn nữa, các vitamin tan trong chất béo (A, D, E và K) cũng không được hấp thu, dẫn đến thiếu hụt. Việc thiếu hụt vitamin K sẽ nhanh chóng dẫn đến tổng hợp prothrombin không đầy đủ và do đó gây rối loạn đông máu. Nếu cần phẫu thuật ở người bệnh bị vàng da tắc mật, vấn đề cầm máu có thể gặp khó khăn.
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ