Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Ngoại khoa Căn bản: Vấn đề, Chẩn đoán và Quản lý, Ấn bản thứ 7 (2026). CHƯƠNG 35. BỆNH LÝ TUYẾN TIỀN LIỆT

54 phút đọc

Ngoại khoa Căn bản: Vấn đề, Chẩn đoán và Quản lý, ấn bản thứ 7 (2026)
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 7th Edition
Biên tập viên chính: Clive R. G. Quick, Suzanne Biers, Tan Arulampalam, Philip J. Deakin
Dịch & Chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng – (C) 2026 Elsevier


CHƯƠNG 35. BỆNH LÝ TUYẾN TIỀN LIỆT

Disorders of the prostate
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 35, 514-527


GIỚI THIỆU

Tăng sản lành tính và ung thư biểu mô là những rối loạn phổ biến nhất của tuyến tiền liệt, và chúng ngày càng trở nên quan trọng trong bối cảnh dân số nam giới đang già hóa. Viêm và nhiễm trùng tuyến tiền liệt (viêm tuyến tiền liệt) là tình trạng ít phổ biến hơn, xảy ra ở nhóm tuổi trẻ hơn và khá khó xác định về mặt lâm sàng.

GIẢI PHẪU

Tuyến tiền liệt bình thường dài khoảng 3 cm, đường kính 3 cm và nặng 20-25 g. Tuyến nằm ngay bên dưới cổ bàng quang sao cho 3 cm đầu tiên của niệu đạo nằm trong tuyến (Hình 35.1). Thành niệu đạo đoạn gần (niệu đạo tiền liệt tuyến) được cấu tạo bởi mô tuyến, góp phần vào cơ chế kiểm soát tiểu tiện ở nam giới và được gọi là cơ thắt trong. Niệu đạo sau đó đi qua tấm phẳng của cơ sàn chậu, nơi nó trở thành niệu đạo màng; tại mức này, nó được bao quanh bởi cơ thắt niệu đạo ngoài. Tăng sản và ung thư biểu mô tuyến tiền liệt đều có thể gây tắc nghẽn niệu đạo tại chỗ.

Mặt sau của tuyến có thể sờ thấy qua thăm khám trực tràng (xem Hình 35.1), và thường xác định được rãnh giữa (median groove). Rãnh này (hay khe) được mô tả là chia tuyến thành hai thùy bên. Nó thường nổi rõ trong phì đại lành tính tuyến tiền liệt nhưng có xu hướng bị xóa mờ trong ung thư tuyến tiền liệt tiến triển.

Khi soi bàng quang kiểm tra niệu đạo tiền liệt tuyến, một mốc quan trọng là gò mô thuôn dài trên sàn của niệu đạo tiền liệt tuyến gọi là gò tinh hay núi nhỏ (verumontanum/urethral crest), kích thước và độ lồi của nó có thể thay đổi. Tại điểm giữa của nó là một hõm nhỏ, đôi khi có thể nhìn thấy, nơi hai ống phóng tinh đổ vào. Phần sau của tuyến nằm trên các ống phóng tinh được gọi là thùy giữa. Nếu phần này bị phì đại, nó có thể lồi vào sàn bàng quang (tạo thành “thùy giữa” ngoại khoa); phần này có thể hoạt động như một van nắp và gây tắc nghẽn đường ra bàng quang.

Như thấy trong Hình 35.1, phần lớn thể tích tuyến tiền liệt bình thường bao gồm tới 50 tiểu thùy tuyến ngoại vi. Các tiểu thùy này hội tụ vào khoảng 20 ống dẫn riêng biệt đổ vào niệu đạo tiền liệt tuyến, ở phía bên của gò tinh. Ngoài mô tuyến này, còn có một vùng các tuyến nhỏ cạnh niệu đạo nằm kề niệu đạo, gọi là vùng chuyển tiếp (transition zone). Từ tuổi trung niên trở đi, vùng chuyển tiếp có xu hướng phì đại gây ra tăng sản lành tính tuyến tiền liệt (BPH). Đồng thời, mô tuyến ngoại vi bị nén lại tạo thành một “vỏ bao phẫu thuật” (surgical capsule) dạng sợi ở bên ngoài. Ngược lại với BPH, ung thư tuyến tiền liệt thường phát sinh nhất ở mô tuyến ngoại vi. Nó có xu hướng lan ra ngoài vào các cấu trúc lân cận thường xuyên hơn là gây tắc nghẽn niệu đạo nằm ở trung tâm. Ung thư có thể phát sinh ở vùng ngoại vi còn sót lại ngay cả sau khi cắt bỏ tuyến tiền liệt qua đường niệu đạo hoặc các hình thức phẫu thuật cắt bỏ tuyến tiền liệt khác để điều trị BPH.

Tuyến tiền liệt bình thường được bao quanh bởi một bao thật (true capsule) mỏng, ít có ý nghĩa về mặt ngoại khoa; bên ngoài bao này là một đám rối tĩnh mạch phong phú, và đám rối này lại được bao bọc bởi một lá cân dày. Trong phẫu thuật cắt bỏ tuyến tiền liệt tận gốc hoặc nội soi, điều quan trọng là không làm tổn thương đám rối tĩnh mạch này vì đây là nguồn chảy máu không mong muốn thường gặp trong và sau mổ. Có các kết nối tĩnh mạch trực tiếp giữa đám rối này và đám rối ngoài màng cứng cột sống, tạo đường đi trực tiếp cho sự di căn theo đường máu của ung thư tuyến tiền liệt. Ở phía sau, cân mạc tuyến tiền liệt dính với cân Denonvilliers dày. Cấu trúc này tạo ra một rào cản chống lại sự lây lan trực tiếp của ung thư từ tuyến tiền liệt sang trực tràng và ngược lại.

Hình 35.1: Các thiết đồ cắt ngang qua tuyến tiền liệt bình thường, tăng sản và ác tính.

TĂNG SẢN LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT (BPH)

Sự phát triển của tuyến tiền liệt biểu hiện trên lâm sàng được gọi là phì đại lành tính tuyến tiền liệt (BPE) và có thể liên quan đến các triệu chứng rối loạn tiểu tiện (tắc nghẽn). BPH là chẩn đoán mô học và là nguyên nhân của sự phì đại, nhưng các thuật ngữ này thường được sử dụng thay thế cho nhau. Tình trạng này rất phổ biến sau tuổi trung niên và ảnh hưởng đến một nửa số nam giới trên 50 tuổi. Tỷ lệ này tăng lên theo tuổi tác sao cho BPH hầu như hiện diện ở tất cả nam giới 70 tuổi. Khoảng một nửa số người bị BPH không có triệu chứng hoặc chỉ có triệu chứng nhẹ. Tuy nhiên, ở khoảng 50% nam giới trên 60 tuổi, tình trạng tăng sản gây ra đủ triệu chứng để cần cân nhắc điều trị.

Sinh lý bệnh của tăng sản lành tính tuyến tiền liệt

Về mặt bệnh học, các tuyến vùng chuyển tiếp cạnh niệu đạo trải qua quá trình tăng sản dạng nốt. Điều này gây ra sự phì đại đối xứng tiến triển của tuyến lên đến vài lần kích thước bình thường.

Thể tích tuyến tiền liệt không thể ước tính chính xác bằng thăm khám trực tràng bằng ngón tay và do đó được đánh giá tốt nhất bằng siêu âm hoặc chẩn đoán hình ảnh cắt lớp. Tuy nhiên, có rất ít mối liên hệ giữa thể tích tuyến tiền liệt và các triệu chứng; sự hiện diện của một tuyến tiền liệt lớn mà không có triệu chứng không phải là chỉ định điều trị. Tốc độ dòng tiểu được quyết định bởi khẩu kính (đường kính) và chiều dài của niệu đạo tiền liệt tuyến và bởi khả năng co bóp của cơ chóp (cơ trơn bàng quang), chứ không phải bởi khối lượng tuyến tiền liệt. Soi bàng quang có thể cung cấp thêm chi tiết giải phẫu nhưng không cung cấp thông tin về chức năng.

Đặc điểm lâm sàng của tăng sản lành tính tuyến tiền liệt

Các triệu chứng và dấu hiệu của tắc nghẽn đường ra bàng quang (được tóm tắt trong Hộp 35.1) thường khởi phát từ từ. Các nguyên nhân lành tính có thể gặp khác ngoài BPH bao gồm phì đại cổ bàng quang, hẹp cổ bàng quang và hẹp niệu đạo. Bí tiểu cấp tính có thể xảy ra đột ngột bất cứ lúc nào trong bất kỳ tình trạng nào kể trên và thường được khởi phát do bàng quang quá đầy sau khi uống quá nhiều chất lỏng. Đây cũng là một nguy cơ sau các cuộc mổ ngoại khoa tổng quát hoặc chỉnh hình ở nam giới lớn tuổi.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ