Ngoại khoa Căn bản: Vấn đề, Chẩn đoán và Quản lý, ấn bản thứ 7 (2026)
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 7th Edition
Biên tập viên chính: Clive R. G. Quick, Suzanne Biers, Tan Arulampalam, Philip J. Deakin
Dịch & Chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng – (C) 2026 Elsevier
CHƯƠNG 34. Các triệu chứng, dấu hiệu và thăm dò các rối loạn đường tiết niệu
Symptoms, signs and investigation of urinary tract disorders
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 34, 502-513
Giới thiệu
Các rối loạn đường tiết niệu rất phổ biến và chiếm một phần đáng kể trong khối lượng công việc của các bác sĩ gia đình, bác sĩ nội khoa tổng quát, bác sĩ nhi khoa và phẫu thuật viên. Các rối loạn tuyến tiền liệt chiếm ít nhất một nửa công việc trong phẫu thuật niệu khoa. Các bệnh lý tuyến tiền liệt chính là phì đại lành tính tuyến tiền liệt (benign prostatic enlargement – BPE) gây ra bởi tăng sản tuyến tiền liệt, ảnh hưởng đến khoảng 10% nam giới lớn tuổi ở các nước phương Tây; và ung thư biểu mô tuyến tiền liệt, hiện là loại ung thư phổ biến thứ hai ở nam giới trên toàn thế giới và là loại ung thư thường gặp nhất được chẩn đoán ở nam giới tại Vương quốc Anh và các quốc gia thu nhập cao khác.
Các rối loạn ngoại khoa còn lại của thận và đường tiết niệu có thể được chia thành năm nhóm lớn: khối u, bệnh lý sỏi, nhiễm trùng, các bất thường bẩm sinh và cuối cùng là các rối loạn tại chỗ và toàn thân ảnh hưởng thứ phát đến đường tiết niệu.
Chương này đề cập đến các triệu chứng, dấu hiệu, phương pháp tiếp cận thăm dò và chẩn đoán bệnh lý đường tiết niệu. Các thực thể bệnh học khác nhau sau đó sẽ được thảo luận trong năm chương tiếp theo.
Các triệu chứng của bệnh lý đường tiết niệu
Các triệu chứng tiết niệu có thể do bệnh lý nội tại của đường tiết niệu hoặc do bệnh lý của các cấu trúc bên ngoài có liên quan.
Các triệu chứng gây ra do bệnh lý nội tại của đường tiết niệu
Dòng chảy của nước tiểu từ thận có thể bị cản trở do tắc nghẽn tại chính niệu quản hoặc thấp hơn tại đầu ra của bàng quang. Tình trạng này ngăn cản sự dẫn lưu hiệu quả của bàng quang và có thể ảnh hưởng thứ phát đến chức năng thận. Tắc nghẽn mạn tính đầu ra bàng quang và/hoặc tắc nghẽn đường niệu trên hai bên có thể dẫn đến suy thận, thường không có bất kỳ triệu chứng khu trú nào.
BPE (còn được gọi là tăng sản lành tính tuyến tiền liệt khi đã có kết quả mô bệnh học) là rối loạn tuyến tiền liệt phổ biến nhất và thường biểu hiện với các triệu chứng tắc nghẽn đầu ra bàng quang (ví dụ: tiểu ngập ngừng hoặc phải rặn để bắt đầu đi tiểu, dòng tiểu yếu, tiểu không hết bãi hoặc bí tiểu) và đôi khi có đái máu. Tắc nghẽn do tuyến tiền liệt tạo điều kiện thuận lợi cho nhiễm trùng bàng quang và hình thành sỏi thứ phát do bàng quang không rỗng hoàn toàn, và người bệnh có thể biểu hiện các triệu chứng hậu quả đó.
Ung thư tuyến tiền liệt có thể biểu hiện với tình trạng tắc nghẽn đầu ra bàng quang tương tự như BPE hoặc có thể được phát hiện ở giai đoạn không triệu chứng khi kiểm tra sức khỏe bằng thăm trực tràng (digital rectal examination – DRE) hoặc xét nghiệm máu (kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt – PSA). Một số trường hợp được chẩn đoán lần đầu do các triệu chứng của di căn như đau xương.
Viêm tuyến tiền liệt (prostatitis) đề cập đến tình trạng nhiễm khuẩn hoặc viêm của tuyến tiền liệt, có thể có tính chất cấp tính hoặc mạn tính. Viêm tuyến tiền liệt cấp do vi khuẩn có thể biểu hiện như một bệnh lý toàn thân (thậm chí là nhiễm khuẩn huyết Gram âm) với các triệu chứng tiết niệu và tuyến tiền liệt đau dữ dội khi chạm vào. Thỉnh thoảng, áp xe tuyến tiền liệt có thể phát triển. Viêm tuyến tiền liệt mạn tính gây ra bởi nhiễm khuẩn tái phát hoặc viêm khi không có bằng chứng nhiễm khuẩn và thường biểu hiện bằng cảm giác đau tức vùng tầng sinh môn kéo dài kèm theo tiểu nhiều lần và tiểu gấp.
Tóm tắt về các khối u đường tiết niệu quan trọng, bệnh lý sỏi và nhiễm trùng được trình bày trong Bảng 34.1. Bất kỳ tình trạng nào trong số này đều có thể biểu hiện bằng đái máu. Các rối loạn gây ứ trệ nước tiểu cũng tạo điều kiện cho nhiễm trùng đường tiết niệu.
Các bất thường bẩm sinh có thể liên quan đến thận, niệu quản, bàng quang, niệu đạo và cơ quan sinh dục, xuất hiện đơn lẻ hoặc phối hợp. Hầu hết các bất thường nghiêm trọng đều được nhận biết trước sinh qua siêu âm, ngay khi sinh hoặc trong giai đoạn đầu ấu thơ.
Các ngoại lệ là bệnh thận đa nang và thận xốp tủy (medullary sponge kidney), thường biểu hiện ở tuổi trưởng thành. Các bất thường bẩm sinh ít nghiêm trọng hơn như hệ thống thận đôi có thể tạo điều kiện cho nhiễm trùng đường tiết niệu do động học dòng chảy bất thường. Những bất thường này có thể được phát hiện ở mọi lứa tuổi trong quá trình thăm dò tình trạng nhiễm trùng tiết niệu tái phát. Các rối loạn bẩm sinh biểu hiện chủ yếu ở tuổi trưởng thành được thảo luận trong Chương 36 và những rối loạn biểu hiện chủ yếu ở trẻ em được thảo luận trong Chương 50.
Bảng 34.1 Sinh lý bệnh và đặc điểm lâm sàng của các khối u, sỏi và nhiễm trùng đường tiết niệu
| Bệnh lý | Sinh lý bệnh | Đặc điểm lâm sàng |
|---|---|---|
| Khối u | ||
| Ung thư biểu mô tế bào thận (Renal cell carcinoma) – Khá phổ biến | Xảy ra ở người lớn. Nguồn gốc từ các tế bào ống thận | Biểu hiện tình cờ (ví dụ: trên phim chụp cắt lớp vi tính CT) hoặc với các triệu chứng đái máu, sờ thấy khối, hoặc các dấu hiệu toàn thân như sốt hoặc đa hồng cầu, hoặc không có triệu chứng |
| U nguyên bào thận (U Wilms; xem Chương 50) – Hiếm gặp | Nguồn gốc phát triển; thường được chẩn đoán trước 5 tuổi | Biểu hiện là một khối bất thường có hoặc không kèm đau và đái máu |
| Ung thư biểu mô đường niệu (Urothelial carcinoma – UC) – Phổ biến | Có thể phát sinh trong biểu mô chuyển tiếp ở bất cứ đâu trong đường tiết niệu từ hệ thống đài bể thận đến niệu đạo, nhưng phổ biến nhất là ở bàng quang | Thường biểu hiện bằng đái máu đại thể hoặc vi thể. Tạo điều kiện cho nhiễm trùng đường tiết niệu. Có thể gây tắc nghẽn niệu quản |
| Ung thư biểu mô tế bào vảy (Squamous Cell Carcinoma – SCC) – Rất hiếm | Phát sinh trong biểu mô vảy chuyển sản. Thứ phát sau viêm mạn tính do sỏi bàng quang, đặt ống thông (catheter) lưu lâu dài hoặc kích thích do sán máng, đặc biệt là ở bàng quang. Cũng phát sinh nguyên phát trong biểu mô vảy của niệu đạo đoạn xa | SCC bàng quang thường không có triệu chứng cho đến khi đạt đến giai đoạn tiến triển; có xu hướng xâm lấn cơ khi biểu hiện với các triệu chứng tiết niệu, nhiễm trùng, đái máu và đau |
| Ung thư biểu mô tuyến của bàng quang (Adenocarcinoma) – Rất hiếm | Phát sinh từ biểu mô trụ của di tích ống niệu rốn (urachal remnant) | Các đặc điểm bao gồm đái máu và các triệu chứng tiết niệu, khoảng một phần ba có di căn hạch bạch huyết tại thời điểm biểu hiện bệnh |
| Bệnh lý sỏi | ||
| Nói chung | Sỏi tại chỗ có thể gây kích ứng biểu mô đường tiết niệu | Biểu hiện đau hoặc đái máu hoặc nhiễm trùng tái phát |
| Sỏi có thể phát triển trong hệ thống đài bể thận hoặc bàng quang. Sỏi đài bể thận có thể di chuyển vào niệu quản – Rất phổ biến | Sỏi thận mạn tính có thể gây tắc nghẽn mạn tính khúc nối bể thận – niệu quản hoặc tắc niệu quản trực tiếp hoặc do gây xơ hẹp
Sỏi thận cấp tính có thể gây tắc nghẽn niệu quản khi chúng di chuyển xuống đường tiết niệu |
Biểu hiện đau mạn tính (do áp lực ngược lên thận) hoặc nhiễm trùng tái phát
Biểu hiện đau quặn cấp tính thường kèm theo ấn đau vùng thận (cơn đau quặn thận hoặc niệu quản). Nhiễm trùng có thể xảy ra sau đó, phá hủy thận nếu không được điều trị |
| Nhiễm trùng | ||
| Nhiễm trùng ‘thông thường’ do các vi sinh vật đường ruột | Nhiễm trùng phát triển qua đường máu hoặc ứ trệ đường tiết niệu dưới tạo điều kiện cho nhiễm trùng | Điển hình biểu hiện với tiểu buốt và tiểu nhiều lần có hoặc không kèm đái máu. Bất kỳ bất thường nào của đường tiết niệu hoặc ứ trệ đều tạo điều kiện cho nhiễm trùng. Nhiễm trùng ngược dòng có thể gây viêm đài bể thận (pyelonephritis), tức là nhiễm trùng nhu mô thận và bể thận |
| Lao (Tuberculosis) – Ít gặp | Tổn thương thận qua đường máu từ phổi hoặc bệnh lý nguyên phát khác. Có thể lan qua nước tiểu đến niệu quản và bàng quang | Có thể biểu hiện đái máu, đái ra mủ vô khuẩn dai dẳng, hoặc là phát hiện tình cờ ở người bệnh lao phổi |
| Bệnh sán máng đường tiết niệu (Urinary schistosomiasis – Bilharzia) – Phổ biến ở Châu Phi, Nam Mỹ và Trung Đông | Gây viêm mạn tính và xơ hóa thành bàng quang dẫn đến biến dạng bàng quang nghiêm trọng, sỏi và đôi khi là ung thư biểu mô tế bào vảy | Biểu hiện đái máu và các triệu chứng khác nhau của nhiễm trùng và xơ hóa bàng quang |
| Viêm niệu đạo (Urethritis) | Thường do các bệnh lây truyền qua đường tình dục, ví dụ: lậu cầu hoặc Chlamydia | Biểu hiện tiết dịch niệu đạo và tiểu buốt |
Chú thích: CT: Chụp cắt lớp vi tính; SCC: Ung thư biểu mô tế bào vảy; UC: Ung thư biểu mô đường niệu.
Các triệu chứng tiết niệu gây ra do bệnh lý ngoài đường tiết niệu
Đường tiết niệu đôi khi bị ảnh hưởng thứ phát trong các tình trạng viêm tại chỗ như bệnh Crohn hoặc bệnh túi thừa (diverticular disease). Đường rò có thể hình thành giữa ruột và bàng quang, dẫn đến việc tiểu ra hơi và/hoặc phân (đái ra hơi và đái ra phân). Các khối u vùng chậu ở phụ nữ có thể biểu hiện bí tiểu. Xơ hóa sau phúc mạc, viêm túi thừa, các khối u tiền liệt tuyến, cổ tử cung hoặc đại tràng, và đôi khi phình động mạch chủ hoặc động mạch chậu có thể ảnh hưởng thứ phát đến niệu quản và gây tắc nghẽn đường niệu trên và thận ứ nước.
Các triệu chứng phổ biến của bệnh lý đường tiết niệu
Các triệu chứng này thuộc tám nhóm:
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ