Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Nội tiết học Bà mẹ – Thai Nhi và Sơ Sinh (Ấn bản thứ 2, 2026). CHƯƠNG 14: SỰ KHỞI ĐẦU VÀ ĐIỀU HOÀ NỘI TIẾT CỦA QUÁ TRÌNH TIẾT SỮA Ở NGƯỜI

83 phút đọc

Nội tiết học Bà mẹ – Thai Nhi và Sơ Sinh: Sinh Lý, Sinh Lý Bệnh và Xử Trí Lâm Sàng (Ấn bản thứ 2, 2026). 
Dịch và Chú giải tiếng Việt:
Ths.Bs. Lê Đình Sáng

Maternal-Fetal and Neonatal Endocrinology: Physiology, Pathophysiology, and Clinical Management, 2nd Edition
Imprint: Academic Press. Editors: Christopher S. Kovács, Cheri L. Deal.
Ấn bản tiếng Việt của cuốn sách này là một dự án phi lợi nhuận, được xuất bản duy nhất trên các website yhoclamsang.net và sachyhoc.com của THƯ VIỆN MEDIPHARM.


CHƯƠNG 14: SỰ KHỞI ĐẦU VÀ ĐIỀU HOÀ NỘI TIẾT CỦA QUÁ TRÌNH TIẾT SỮA Ở NGƯỜI

Anna Sadovnikova, John J. Wysolmerski và Russell C. Hovey

Trường Y khoa, Đại học California, Davis, Sacramento, CA, Hoa Kỳ; Chuyên khoa Nội tiết và Chuyển hoá, Khoa Nội chung, Trường Y khoa Yale, New Haven, CT, Hoa Kỳ; Khoa Khoa học Động vật, Đại học California, Davis, CA, Hoa Kỳ.

The Initiation and Hormonal Regulation of Lactation in Humans
Maternal-Fetal and Neonatal Endocrinology, Chapter 14, 205-223

NHỮNG THAY ĐỔI LÂM SÀNG CHÍNH

Sự phát triển của tuyến vú bắt đầu trong quá trình phôi thai (embryogenesis) và được điều hoà đồng bộ trong suốt giai đoạn trưởng thành sinh dục. Trong quá trình mang thai, biểu mô tuyến vú biệt hoá để đáp ứng với nồng độ hormone buồng trứng và tuyến yên đang tăng lên, cho phép tổng hợp và tích luỹ một số thành phần của sữa, bao gồm cả các globulin miễn dịch (immunoglobulins).

Sự sụt giảm nhanh chóng của nồng độ progesterone lưu hành trong máu định hướng sự khởi đầu của quá trình tiết sữa và sự tổng hợp dồi dào, liên tục các thành phần sữa khác nhau bởi biểu mô lòng ống (luminal epithelium) sau khi sinh. Oxytocin kích thích sự phóng sữa (tống sữa) thông qua tác động của nó lên lớp cơ biểu mô (myoepithelium) xung quanh.

Việc duy trì quá trình tiết sữa đòi hỏi một loạt các thích nghi từ phía người mẹ, bao gồm những thay đổi trong chuyển hoá glucose, lipid và khoáng chất, tất cả đều nhằm phân bổ các chất dinh dưỡng đến tuyến vú để sản xuất sữa.

14.1 Phát Triển Tuyến Vú Và Quá Trình Tạo Sữa

Con đường dẫn đến việc nuôi con bằng sữa mẹ thành công bắt đầu ngay từ trong tử cung (in utero) với sự phát triển của hệ thống ống tuyến và tuyến vú thô sơ. Trong suốt thời thơ ấu, tuổi dậy thì và tuổi trưởng thành, mô tuyến vú tiếp tục phát triển để đáp ứng với các tín hiệu nội tiết quan trọng. Các hormone thai kỳ mang lại những thay đổi lớn nhất đối với hình thái tuyến vú. Sau khi sinh, sự chuyển đổi nội tiết cấp tính chỉ đạo biểu mô tuyến vú đảm nhận quá trình tiết sữa toàn diện và bền vững (sustained lactation), có khả năng hỗ trợ và nuôi dưỡng trẻ sơ sinh bằng cách cung cấp một hỗn hợp phức tạp và kỳ diệu gồm các chất dinh dưỡng, tế bào, prebiotics và các yếu tố miễn dịch có trong sữa (Hình 14.1A).

14.1.1 Thời Kỳ Phôi Thai

Sự phát triển tuyến vú ở thai nhi người biểu hiện rõ ràng lần đầu tiên vào khoảng tuần thứ 5 của thai kỳ khi các đường sữa đối xứng (milk lines) bắt đầu xuất hiện. Vào tuần thứ 15-18, nụ biểu mô nguyên thuỷ lõm vào tại vị trí tương lai của tuyến vú, và đến tuần thứ 20, các ống dẫn sữa tương lai (galactophores) dẫn đến núm vú đã hiện diện dưới dạng 15-25 dải ống độc lập. Lúc mới sinh, các ống tuyến vú thay đổi về cấu trúc, từ các ống kéo dài và tương đối đơn giản đến các ống phân nhánh nhiều hơn mang theo các tiểu thuỳ tận cùng và các phế nang (nang sữa – alveoli) sơ khai. Các hormone của người mẹ trong tuần hoàn thai nhi có thể gây ra sự biệt hoá biểu mô tuyến vú ở thai nhi, dẫn đến việc 80%-90% trẻ sơ sinh tiết ra một chất dịch giống như sữa non gọi là “sữa phù thuỷ” (witch’s milk). Những chất tiết này thường tự hết khi nồng độ hormone của mẹ trong máu trẻ sơ sinh giảm xuống.

14.1.2 Tuổi Dậy Thì

Biểu mô tuyến vú vẫn ở trạng thái tương đối không hoạt động trong Giai đoạn Tanner 1 (Tanner Stage 1) cho đến khi bắt đầu tuổi dậy thì. Dấu hiệu đầu tiên của sự phát triển tuyến vú xuất hiện trong Giai đoạn Tanner 2 dưới dạng một nụ dưới quầng vú có thể sờ thấy được, bao gồm các tế bào mô đệm và biểu mô đang tăng sinh, nằm kế cận các tế bào mỡ tuyến vú đang phì đại do tích tụ mỡ. Những thay đổi ở vú này xảy ra trong khoảng từ 8 đến 13 tuổi, chừng 2 năm trước khi có kinh nguyệt lần đầu (menarche).

Khi bắt đầu dậy thì, các cấu trúc biểu mô phát triển đồng thời thông qua sự kéo dài của các ống tuyến nhờ sự tăng sinh ở các nụ tận cùng ống tuyến (terminal end buds), cũng như từ sự phát triển của các đơn vị tiểu thuỳ ống tận (terminal ductal lobular units – TDLUs) được sắp xếp dưới dạng các ống nhỏ cụm lại quanh phần cuối của các ống dẫn. Các tiểu thuỳ bắt đầu hình thành lần đầu ở vùng ngoại vi của vú khoảng 1-2 năm sau kỳ kinh đầu tiên, nơi độ phức tạp của cấu trúc đơn vị tiểu thuỳ ống tận tăng lên theo tuổi do sự phân nhánh ống tuyến dưới tác động của hormone trong mỗi chu kỳ kinh nguyệt.

Các ống biểu mô và cấu trúc tiểu thuỳ ống tận trong mỗi tiểu thuỳ được bao quanh bởi một lớp mô đệm xơ trong tiểu thuỳ, lớp này lại được bao quanh bởi mô mỡ. Các tiểu thuỳ riêng biệt được phân tách bởi mô liên kết gian tiểu thuỳ chứa collagen, cung cấp sự hỗ trợ vật lý cũng như kết nối với mạc cơ ngực thông qua dây chằng Cooper. Mặc dù mô vú ở nam giới bình thường không phát triển do nồng độ estrogen thấp, nhưng một số nam thiếu niên trải qua sự phát triển tuyến vú thoáng qua với tình trạng nữ hoá tuyến vú sinh lý (physiologic gynecomastia) do sự thay đổi dọc theo trục dưới đồi – tuyến yên – tuyến sinh dục (hypothalamic-pituitary-gonadal axis), con đường dopaminergic-prolactin, bệnh mãn tính hoặc do sử dụng nhiều loại thuốc khác nhau.

Hình 14.1. Những thay đổi ở tuyến vú (A) và cơ thể (B) của người mẹ để hỗ trợ quá trình tiết sữa. (A) Trong giai đoạn dậy thì và mang thai, các tế bào biểu mô bên trong tuyến vú trải qua quá trình tăng trưởng và phát triển hình thái để đáp ứng với các chất tiết từ buồng trứng. Khi thai kỳ tiếp diễn, sự kích thích bổ sung bởi insulin, corticoid và các hormone tạo sữa thúc đẩy sự biệt hoá tế bào, dẫn đến việc tích tụ chất tiết (quá trình tạo sữa giai đoạn I – LI) trở thành dòng sữa non giàu globulin miễn dịch có sẵn lúc sinh. Quá trình tạo sữa giai đoạn II (LII) chỉ diễn ra sau khi nhau thai được tống xuất và nồng độ progesterone lưu hành trong máu giảm đủ mức để kích thích đóng các liên kết vòng bịt và làm gia tăng đáng kể quá trình tổng hợp lactose. Quá trình tiết sữa bền vững sau đó đòi hỏi sự đóng góp liên tục của các hormone bao gồm insulin, corticoid, Prolactin (PRL), và việc cung cấp chất dinh dưỡng hỗ trợ được trình bày chi tiết ở phần (B). Sự khởi đầu của quá trình tiết sữa cũng khởi động một chuỗi tương tác phức tạp của các sự thích nghi từ phía người mẹ nhằm điều biến việc hấp thu và phân bổ chất dinh dưỡng, cũng như chức năng sinh sản. Sự gia tăng lượng thức ăn tiêu thụ và mức hấp thu cung cấp nguồn glucose, lipid, axit amin và vi chất dinh dưỡng chính để tổng hợp sữa. Những thay đổi ở ngoại vi tại hệ xương, thận và ruột non đảm bảo sinh khả dụng đầy đủ của canxi. Những thay đổi trong việc huy động lipid từ mô mỡ ngoại vi nối tiếp một thời kỳ tạo lipid trong quá trình mang thai. Những thay đổi này được phối hợp bởi sự tương tác phức tạp của tín hiệu nội tiết từ vùng dưới đồi và các mô ngoại vi. Đồng thời, tình trạng vô kinh do tiết sữa xảy ra như một kết quả của sự ức chế tín hiệu hướng sinh dục đến buồng trứng. FGF21: Yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi 21; LI: Quá trình tạo sữa giai đoạn I; LII: Quá trình tạo sữa giai đoạn II; MLs: mililít; NPY/AGRP: neuropeptide Y/Agouti-related peptide; POMC/CART: proopiomelanocortin/cocaine-and amphetamine-related transcript; T1: ba tháng đầu thai kỳ; T2: ba tháng giữa thai kỳ; T3: ba tháng cuối thai kỳ; TDLU: đơn vị tiểu thuỳ ống tận; TG/NEFA: chất béo trung tính/axit béo không ester hoá.

14.1.3 Thai Kỳ

Trong ba tháng đầu thai kỳ, biểu mô tuyến vú tiếp tục tăng sinh, tạo ra các đơn vị tiểu thuỳ ống tận loại 4 (TDLU-4) lớn hơn và chia thuỳ nhiều hơn. Các tiểu thuỳ này chứa một lượng lớn phế nang (nang sữa), mỗi nang bao gồm một lớp tế bào biểu mô lòng ống bài tiết (secretory luminal cells) duy nhất được bao quanh bởi một mạng lưới các tế bào cơ biểu mô có khả năng co thắt giúp tống sữa ra ngoài. Mức độ phát triển trong 15-25 tiểu thuỳ độc lập trong tuyến vú có thể khác nhau đáng kể. Sự phát triển của tuyến vú cũng khác nhau giữa các phụ nữ, mặc dù sự thay đổi tổng thể tích tuyến vú trong thời kỳ mang thai không dự đoán được lượng sữa sản xuất ra trong quá trình cho con bú. Tuy nhiên, một số báo cáo ca bệnh đã mô tả những phụ nữ sản xuất không đủ sữa do tình trạng thiểu sản tuyến vú (breast hypoplasia), hay còn gọi là thiểu sản mô tuyến (insufficient glandular tissue – IGT). Sinh lý bệnh học hoặc tỷ lệ lưu hành của tình trạng thiểu sản mô tuyến vẫn chưa được biết rõ, mặc dù chẩn đoán bệnh này bao gồm hình ảnh hai vú cách xa nhau, hình ống với phần lớn mô tuyến tập trung ở vùng dưới quầng vú. Lượng mô biểu mô ở những người mẹ béo phì có thể bị giảm như một hệ quả tiêu cực của việc tăng lắng đọng mỡ bên trong vú, tương tự như hiện tượng xảy ra ở loài gặm nhấm. Sự suy giảm mô bài tiết này có thể là một yếu tố dẫn đến tỷ lệ thất bại trong việc cho con bú cao hơn ở những phụ nữ béo phì. Tương tự như vậy, chức năng của biểu mô tuyến vú cũng như thành phần và thể tích sữa sau đó có thể bị thay đổi để đáp ứng với tình trạng viêm toàn thân và đề kháng insulin ở những phụ nữ mắc hội chứng chuyển hoá và béo phì.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ