Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Phẫu thuật Nội soi Cột sống Một bên Hai cổng: Kỹ thuật Cơ bản và Nâng cao. CHƯƠNG 11. GIẢM ÁP HỘI CHỨNG FAR-OUT (HỘI CHỨNG CHÈN ÉP RỄ THẦN KINH NGOÀI LỖ LIÊN HỢP) BẰNG NỘI SOI MỘT BÊN HAI CỔNG

24 phút đọc

Phẫu thuật Nội soi Cột sống Một bên Hai cổng: Kỹ thuật Cơ bản và Nâng cao
Unilateral Biportal Endoscopic Spine Surgery: Basic and Advanced Technique – Imprint: Springer (2022)
Chủ biên: Dong Hwa Heo, Cheol Woong Park, Sang Kyu Son, Jin Hwa Eum
Dịch và Chú giải: BSCKII. Trần Trung Kiên, Ths.BS. Lê Đình Sáng


PHẪU THUẬT CỘT SỐNG NỘI SOI MỘT BÊN HAI CỔNG – Kỹ Thuật Cơ Bản Và Nâng Cao


PHẦN III. HẸP ỐNG SỐNG THẮT LƯNG
Lumbal Stenosis

CHƯƠNG 11. GIẢM ÁP HỘI CHỨNG FAR-OUT (HỘI CHỨNG CHÈN ÉP RỄ THẦN KINH NGOÀI LỖ LIÊN HỢP) BẰNG NỘI SOI MỘT BÊN HAI CỔNG

Nam Lee¹, Sang Hyuk Park², và Jin Woo An³

  1. Khoa Ngoại Thần kinh, Bệnh viện Yonseicheok, Busan, Hàn Quốc
  2. Khoa Ngoại Thần kinh, Bệnh viện Yonsei Barowalk, Kyoungki-Do, Hàn Quốc
  3. Khoa Phẫu thuật Chỉnh hình, Nanoori Korea thuộc Bệnh viện Saudi German, Dubai, UAE

11.1 Giới Thiệu

Hội chứng Far-out (Far-out syndrome – FOS) là một dạng của đốt sống chuyển tiếp thắt lưng – cùng (lumbosacral transitional vertebrae – LSTV). Đốt sống chuyển tiếp thắt lưng – cùng là một biến thể giải phẫu đa dạng của vùng bản lề thắt lưng – cùng. Có bốn loại đốt sống chuyển tiếp thắt lưng – cùng. Trong số đó, loại 2 biểu hiện tình trạng khớp giả (pseudo-articulation) giữa mỏm ngang (transverse process) của đốt sống L5 và cánh xương cùng (sacral ala), và ngoài ra, chiều cao lỗ liên hợp (foraminal height) bị giảm sút so với cấu trúc bình thường. Do đó, hội chứng Far-out được định nghĩa là tình trạng chèn ép rễ thần kinh L5 ở vùng lối ra xa do khớp giả giữa mỏm ngang L5 và cánh xương cùng tạo thành. Phương pháp điều trị tiêu chuẩn vàng cho hội chứng Far-out là phẫu thuật giải ép vi phẫu kinh điển (conventional microscopic decompression surgery) hoặc phẫu thuật hàn khớp cột sống thắt lưng (lumbar fusion surgery). Tuy nhiên, nhờ sự phát triển của hệ thống phẫu thuật nội soi, chúng ta có thể điều trị triệt để tổn thương này bằng kỹ thuật nội soi Một bên Hai Cổng (unilateral biportal endoscopy – UBE). Về cơ bản, đường tiếp cận phẫu thuật này giống với đường tiếp cận Wiltse (Wiltse approach) bao gồm việc giải ép đủ rộng ra phía bên xa.

Hình 11.1. Hình ảnh này cho thấy khái niệm cơ bản của một tổn thương ngoài lỗ liên hợp. Các vùng phủ màu xanh lam chỉ ra khớp giả của mỏm ngang phì đại và cánh xương cùng. Rễ thần kinh L5 thoát ra bị chèn ép trong khu vực hẹp (). TP: mỏm ngang. SAP: mỏm khớp trên. SP: gai sau. ALA: cánh xương cùng

11.2 Chỉ Định Và Chống Chỉ Định

Chỉ định và chống chỉ định của phương pháp này rất tương đồng với phẫu thuật giải ép vi phẫu kinh điển. Tổn thương hội chứng Far-out kết hợp với hẹp lỗ liên hợp (foraminal stenosis) ở mức L5/S1 và hội chứng Far-out tái phát cũng có thể điều trị bằng kỹ thuật này. Tuy nhiên, trượt đốt sống (spondylolisthesis) từ độ 2 trở lên và mất vững phân đoạn (segmental instability) là chống chỉ định của kỹ thuật này.

11.3 Các Dụng Cụ Đặc Biệt

Ống nội soi 0 độ (Zero-degree endoscope) được sử dụng phổ biến nhất trong phẫu thuật nội soi Một bên Hai Cổng. Đầu dò sóng cao tần (Radiofrequency – RF probe) (Arthrocare®) là thiết bị thiết yếu để kiểm soát tình trạng chảy máu trong mổ. Hệ thống khoan nội soi khớp (arthroscopic drill system) với cổng dẫn lưu nước muối sinh lý và khoan điện tốc độ cao (high-speed electrical drill) thường được sử dụng để khoan mài các cấu trúc xương. Dụng cụ vén ống soi cũng rất hữu ích trong việc ngăn ngừa tổn thương rễ thần kinh. Kìm gặm xương Kerrison (Kerrison punch) cong mang lại hiệu quả rất cao để giải ép tổn thương lỗ liên hợp. Tất cả các dụng cụ phẫu thuật kinh điển đều có thể áp dụng trong kỹ thuật này.

Hình 11.2. Các dụng cụ nội soi Một bên Hai Cổng (UBE). (a): Ống nội soi 0 độ. Vỏ bọc ống nội soi. Thiết bị đầu dò sóng cao tần (RF). Hệ thống khoan nội soi khớp với ống dẫn lưu nước muối sinh lý. Khoan điện tốc độ cao. (b): Màn hình cho ống nội soi. Máy phát nguồn sáng của ống nội soi. Máy phát thiết bị đầu dò sóng cao tần. Bơm tưới rửa tự động. Hệ thống khoan điện.

Hình 11.3. Các dụng cụ UBE. Dụng cụ phẫu tích hai đầu. Thìa nạo gập góc. Dụng cụ vén rễ thần kinh. Kìm kẹp cá sấu (Alligator forceps). Các ống nong liên tiếp #1~#3. Dụng cụ vén ống soi. Móc đầu tù/đầu tròn. Kìm gắp đĩa đệm (Pituitary forceps). Kìm gặm xương Kerrison & kìm gặm xương cong.

11.4 Vô Cảm Và Tư Thế

Cả phương pháp gây mê nội khí quản (endotracheal general anesthesia) và gây tê ngoài màng cứng (epidural anesthesia) đều có thể áp dụng trong phẫu thuật này. Các tác giả ưu tiên gây tê ngoài màng cứng vì đây là thủ thuật ít xâm lấn hơn và ít gây gánh nặng lên chức năng tim – phổi so với gây mê toàn thân. Người bệnh luôn được đặt nằm sấp trên khung Wilson (Wilson frame). Thêm vào đó, việc làm giảm độ ưỡn cột sống thắt lưng (lumbar lordosis) bằng cách nâng cao khung Wilson có thể giúp quá trình phẫu thuật trở nên thuận lợi hơn vì điều này tạo ra sự mở rộng của vùng lỗ liên hợp và đồng thời cũng làm giảm áp lực ổ bụng. Ngoài ra, việc mang vớ áp lực giúp phòng ngừa huyết khối (thrombosis) ở chi dưới trong suốt quá trình phẫu thuật. Ống thông tiểu Foley (Foley catheter) thường được đặt để theo dõi lượng nước tiểu quanh cuộc mổ.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ