PHẪU THUẬT TUYẾN GIÁP VÀ TUYẾN CẬN GIÁP, ẤN BẢN THỨ 3
Chủ biên: Gregory W. Randolph MD FACS FACE – Nhà xuất bản Elsevier (2022). Dịch và chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng
Bản dịch vì mục đích phi lợi nhuận. Xuất bản trực tuyến duy nhất trên các website sachyhoc.com và yhoclamsang.net
CHƯƠNG 47. QUẢN LÝ SAU MỔ UNG THƯ TUYẾN GIÁP BIỆT HÓA
Postoperative Management of Differentiated Thyroid Cancer
Dana Hartl; Sophie Leboulleux; Julien Hadoux; Amandine Berdelou; Ingrid Breuskin; Joanne Guerlain; Martin Schlumberger
Surgery of the Thyroid and Parathyroid Glands, 47, 440-446
MỤC TIÊU CỦA QUẢN LÝ SAU MỔ
Tỷ lệ mắc mới (Incidence) của Ung thư tuyến giáp biệt hóa (Differentiated Thyroid Cancer – DTC) đang ngày càng gia tăng, tuy nhiên tử suất (Mortality Rate) vẫn duy trì ở mức thấp. Đại đa số các khối u này thuộc nhóm nguy cơ thấp, khu trú tại tuyến giáp, với tỷ lệ sống còn đặc hiệu bệnh (Disease-Specific Survival) sau 20 năm đạt gần 100%. Các khuyến cáo hiện hành nhằm mục đích cá thể hóa liệu pháp bổ trợ (Adjuvant Therapy) và quy trình theo dõi cho từng người bệnh và từng loại ung thư. Mục tiêu là tránh điều trị quá mức (Overtreatment) và giám sát quá mức (Oversurveillance) đối với các bệnh lý tiến triển âm thầm, đồng thời tăng cường điều trị cho các trường hợp có nguy cơ tái phát và/hoặc tử vong cao. Các mô hình điều trị hiện tại giúp tránh được độc tính cấp tính không cần thiết cũng như các tác dụng phụ lâu dài liên quan đến I-ốt phóng xạ (Radioactive Iodine – RAI) và liệu pháp thay thế hormone tuyến giáp. Đồng thời, việc chẩn đoán và điều trị hiệu quả cho những người bệnh có di căn xa (Distant Metastases – DM) bằng các kỹ thuật và thuốc phù hợp sẽ giúp cải thiện chất lượng cuộc sống và sống còn không bệnh tiến triển (Progression-Free Survival). Các hệ thống phân loại hiện nay chia người bệnh thành các nhóm nguy cơ để xác định mức độ điều trị bổ trợ và chiến lược theo dõi được khuyến nghị.
ĐIỀU TRỊ DỰA TRÊN NGUY CƠ TÁI PHÁT UNG THƯ
Dựa trên các đặc điểm lâm sàng, trước mổ và mô bệnh học sau mổ của khối u và người bệnh, các bác sĩ có thể đánh giá các yếu tố nguy cơ và phân loại người bệnh thành các nhóm dựa trên nguy cơ tái phát ước tính. Bảng 47.1 liệt kê các đặc điểm này cho từng nhóm nguy cơ, tuân theo Hướng dẫn của Hiệp hội Tuyến giáp Hoa Kỳ (American Thyroid Association – ATA) xuất bản năm 2015.
Hệ thống phân loại của Ủy ban Liên hợp về Ung thư Hoa Kỳ (American Joint Commission on Cancer – AJCC) đánh giá nguy cơ tử vong do ung thư tuyến giáp dựa trên mức độ lan rộng của bệnh, kích thước khối u, vị trí di căn hạch vùng và sự hiện diện của di căn xa. Việc phân nhóm giai đoạn theo tuổi cho thấy kết quả điều trị rất tốt đối với người bệnh dưới 55 tuổi, ngay cả khi có di căn xa, so với những người bệnh lớn tuổi hơn (Hộp 47.1 và 47.2).
Trong thực hành lâm sàng, các chỉ định điều trị bổ trợ sau phẫu thuật hiện nay dựa trên phân nhóm nguy cơ theo hướng dẫn của ATA. Đối với mục đích dịch tễ học và tiên lượng, phân loại Khối u – Hạch – Di căn (TNM Classification) được sử dụng.
Các phương pháp điều trị bổ trợ bao gồm I-ốt phóng xạ (RAI), xạ trị chiếu ngoài (External Beam Radiation Therapy – EBRT), liệu pháp thay thế hoặc ức chế hormone tuyến giáp, điều trị tại chỗ các tổn thương di căn riêng lẻ, và các liệu pháp toàn thân chủ yếu bằng thuốc ức chế Tyrosine Kinase (Tyrosine Kinase Inhibitors – TKIs) đường uống.
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ