Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Sách dịch. Các nguyên lý Y học Hô hấp 8e. Chương 30. Quản lý Suy hô hấp

57 phút đọc

Sách dịch: CÁC NGUYÊN LÝ Y HỌC HÔ HẤP, ẤN BẢN THỨ 8
Dịch và chú giải: Ts.Bs. Lê Nhật Huy, Ths.Bs. Lê Đình Sáng


Chương 30. Quản lý Suy hô hấp
Management of respiratory failure
Steven E. Weinberger MD, MACP, FRCP, Barbara A. Cockrill MD and Jess Mandel MD, MACP, FRCP
Principles of Pulmonary Medicine, 30, 349-362


MỤC LỤC CHƯƠNG

Mục tiêu và Nguyên tắc Cơ bản của Liệu pháp Hỗ trợ
Suy hô hấp Giảm Oxy máu Cấp tính
Suy hô hấp Tăng CO2 máu
Giảm công hô hấp
Thông khí Cơ học
Thông khí Giới hạn Áp lực
Thông khí Theo chu kỳ Thể tích
Áp lực Dương cuối kỳ Thở ra
Các Chiến lược Thông khí Khác
Ngừng Hỗ trợ Thông khí
Hỗ trợ Thông khí Không xâm lấn trong Suy hô hấp Cấp tính
Biến chứng của Đặt Nội khí quản và Thông khí Cơ học
Các khía cạnh Chọn lọc trong Điều trị Suy hô hấp Mạn tính
Hỗ trợ Thông khí Mạn tính
Ghép phổi

Liệu pháp hỗ trợ nhằm duy trì trao đổi khí đầy đủ là rất quan trọng trong việc quản lý cả suy hô hấp cấp và suy hô hấp mạn tính không hoàn toàn. Trong suy hô hấp cấp, sự sống còn phụ thuộc vào khả năng cung cấp liệu pháp hỗ trợ cho đến khi bệnh nhân hồi phục sau bệnh lý cấp tính gây ra nhu cầu hỗ trợ hệ hô hấp. Đối với bệnh nhân suy hô hấp mạn tính không hoàn toàn, mục tiêu là tối đa hóa chức năng của bệnh nhân và giảm thiểu các triệu chứng cũng như tâm phế mạn trên cơ sở lâu dài. Chương này phác thảo các mục tiêu và phương pháp của liệu pháp hỗ trợ, tập trung vào các khía cạnh khác nhau của thông khí cơ học và các chiến lược để duy trì trao đổi khí đầy đủ. Do các nguyên tắc quản lý hỗ trợ khác nhau ở suy hô hấp giảm oxy máu cấp tính (ví dụ, hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển [ARDS]) và suy hô hấp tăng máu (ví dụ, suy hô hấp cấp trên nền mạn, như trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính [BPTNMT] hoặc bệnh lý thần kinh-cơ), các loại này được xem xét riêng biệt. Chương kết thúc bằng việc xem xét hai chủ đề cụ thể áp dụng cho bệnh nhân suy hô hấp mạn tính không hoàn toàn: hỗ trợ thông khí mạn tính và ghép phổi.

MỤC TIÊU VÀ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LIỆU PHÁP HỖ TRỢ

Sự hấp thu đầy đủ vào máu, vận chuyển đến các mô, và thải trừ đều là các thành phần của quá trình trao đổi khí bình thường. Về sự hấp thu của máu, gần như toàn bộ được vận chuyển bởi máu đều gắn với hemoglobin, và chỉ một phần nhỏ được hòa tan trong huyết tương. Từ đường cong phân ly oxyhemoglobin, rõ ràng là việc nâng vượt quá điểm mà tại đó hemoglobin đã gần như bão hòa hoàn toàn không làm tăng đáng kể hàm lượng trong máu (xem Chương 1). Trung bình, giả sử đường cong phân ly oxyhemoglobin không bị dịch chuyển, hemoglobin bão hòa khoảng 90% ở mức 60 mm Hg. Việc tăng đến mức này là quan trọng đối với việc cung cấp oxy cho mô, nhưng mức cao hơn nhiều so với mức này không mang lại nhiều lợi ích gia tăng. Trên thực tế, bệnh nhân suy hô hấp thường được duy trì ở mức cao hơn một chút so với 60 mm Hg (hoặc độ bão hòa >90%) để có một “khoảng an toàn” cho các biến động về oxy hóa máu.

Tuy nhiên, việc cung cấp oxy đến các mô không chỉ phụ thuộc vào động mạch mà còn phụ thuộc vào nồng độ hemoglobin và cung lượng tim.

Mục tiêu tối ưu hóa vận chuyển đến các mô:

  1. Độ bão hòa động mạch lớn hơn 90% (tức là > 60 mm Hg)
  2. Mức hemoglobin chấp nhận được (ví dụ,
  3. Cung lượng tim phù hợp

Ở những bệnh nhân thiếu máu, hàm lượng và do đó việc vận chuyển có thể bị ảnh hưởng nhiều bởi mức hemoglobin thấp cũng như bởi tình trạng giảm oxy máu (xem Công thức 1.3). Trong một số trường hợp chọn lọc, truyền máu có thể hữu ích trong việc nâng hemoglobin và hàm lượng lên mức mong muốn hơn, thường là để duy trì nồng độ hemoglobin

Tương tự, khi cung lượng tim bị suy giảm, việc cung cấp cho mô cũng giảm, và các biện pháp nhằm tăng cường cung lượng tim có thể cải thiện việc vận chuyển và cung cấp tổng thể. Thật không may, việc sử dụng thông khí áp lực dương, đặc biệt là với áp lực dương cuối kỳ thở ra (PEEP), có thể có ảnh hưởng bất lợi đến cung lượng tim. Kết quả là, việc cung cấp cho mô có thể không cải thiện (và thậm chí có thể xấu đi) mặc dù tăng lên. Việc sử dụng PEEP sẽ được thảo luận chi tiết hơn ở phần sau của chương này.

Việc thải trừ qua phổi rất quan trọng để duy trì cân bằng toan-kiềm đầy đủ. Tuy nhiên, việc đạt được một giá trị pH chấp nhận được, chứ không phải là một giá trị “bình thường” là 40 mm Hg, mới là mục tiêu chính trong việc quản lý suy hô hấp có suy giảm thải trừ . Ở những bệnh nhân bị tăng máu mạn tính (và có bù trừ chuyển hóa), việc đột ngột khôi phục về 40 mm Hg có thể gây ra tình trạng kiềm hóa đáng kể và do đó có nguy cơ gây ra rối loạn nhịp tim hoặc co giật.

Việc thải trừ được điều chỉnh để duy trì pH chấp nhận được thay vì “bình thường” là 40 mm Hg.

Suy hô hấp Giảm Oxy máu Cấp tính

Ở bệnh nhân suy hô hấp giảm oxy máu cấp tính như do ARDS, sự bất tương hợp thông khí-tưới máu và shunt là nguyên nhân gây ra tình trạng giảm oxy máu. Bởi vì một phần lớn cung lượng tim đang bị shunt qua các vùng phổi không được thông khí và do đó không được oxy hóa trong quá trình đi qua phổi, nên việc bổ sung tương đối không hiệu quả trong việc nâng lên mức chấp nhận được. Trong những trường hợp này, bệnh nhân có thể cần nồng độ hít vào trong khoảng 60% đến 100% và vẫn có thể gặp khó khăn trong việc duy trì lớn hơn 60 mm Hg. Những bệnh nhân ARDS như vậy thường cần hỗ trợ thông khí để hỗ trợ oxy hóa máu và giảm bớt công hô hấp cao do phổi cứng, kém giãn nở và chứa đầy dịch.

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Trang Chủ