Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

[SÁCH DỊCH] Sản phụ khoa Căn bản. Chương 17: Vô sinh

62 phút đọc

(SÁCH DỊCH) Sản Phụ khoa Căn bản – Essential Obstetrics and Gynaecology
Tác giả: Ian Symonds & Sabaratnam Arulkumaran – (C) NXB Elsevier
Ths.Bs. Lê Đình Sáng (Dịch và Chú giải)


CHƯƠNG 17. VÔ SINH
Infertility
Eloïse Fraison; William Ledger
Essential Obstetrics and Gynaecology, Chapter 17, 273-286


MỤC TIÊU HỌC TẬP

Sau khi kết thúc chương này, bạn có thể:

Tiêu chí kiến thức

  • Mô tả các nguyên nhân thường gặp gây vô sinh ở nam và nữ.
  • Mô tả chỉ định và diễn giải các xét nghiệm được sử dụng trong đánh giá một cặp vợ chồng vô sinh.
  • Thảo luận các nguyên tắc, chỉ định và biến chứng của các phương pháp điều trị vô sinh phổ biến.

Năng lực lâm sàng

  • Khai thác bệnh sử từ một cặp vợ chồng đến khám vì vô sinh.
  • Lập kế hoạch các xét nghiệm ban đầu phù hợp cho một cặp vợ chồng vô sinh.

Kỹ năng và thái độ chuyên nghiệp

  • Suy ngẫm về tác động của vô sinh đối với một cặp vợ chồng.
  • Suy ngẫm về các vấn đề xã hội và đạo đức liên quan đến quản lý vô sinh.

Các ước tính về tỷ lệ vô sinh ở các khu vực khác nhau trên thế giới cho kết quả tương tự đáng kể, với tỷ lệ hiện mắc trong 12 tháng dao động từ 3,5% đến 16,7% ở các quốc gia phát triển hơn và từ 6,9% đến 9,3% ở các quốc gia kém phát triển hơn, với tỷ lệ trung vị tổng thể ước tính là 9%. Ví dụ, tại Vương quốc Anh, cứ bảy cặp vợ chồng thì có một cặp đi khám vì các vấn đề trong việc thụ thai. Chỉ một nửa trong số tất cả các cặp vợ chồng vô sinh tìm kiếm sự trợ giúp y tế, với tỷ lệ tương tự ở các quốc gia phát triển và kém phát triển. Dựa trên những ước tính này và dân số thế giới hiện tại, 72,4 triệu phụ nữ hiện đang bị vô sinh, và trong số này, 40,5 triệu người đang tìm kiếm sự chăm sóc y tế về vô sinh. Mặc dù khó tìm thấy bằng chứng chắc chắn, dường như tỷ lệ vô sinh ở thế giới phương Tây đang gia tăng do một số yếu tố, bao gồm sự gia tăng số lượng người trẻ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, gia tăng béo phì và số lượng phụ nữ ngày càng trì hoãn kế hoạch sinh con cho đến sau này trong cuộc đời.

Vô sinh nguyên phát được định nghĩa là vô sinh mà không có thai kỳ hoặc sinh sống trước đó, và vô sinh thứ phát là không thể thụ thai sau một hoặc nhiều lần mang thai, dù thành công hay kết thúc bằng sẩy thai, thai ngoài tử cung hoặc chấm dứt thai kỳ tự nguyện. Các phương pháp cải tiến để thăm dò vô sinh thường phát hiện ra vấn đề ở cả hai vợ chồng, dẫn đến khái niệm về giảm khả năng sinh sản tương đối. Một người vợ có khả năng sinh sản cao thường sẽ bù đắp cho người chồng có chất lượng tinh trùng kém và thụ thai không khó khăn, và ngược lại.

Ở tuổi 25, tỷ lệ thụ thai mỗi chu kỳ là khoảng 25%; ở tuổi 35 là 12%; và ở tuổi 40 chỉ là 6% mỗi chu kỳ. Đối với một cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh sản, nếu không thụ thai sau 12 tháng quan hệ tình dục đều đặn, cặp vợ chồng đó nên được coi là có khả năng vô sinh, vì 80% các cặp vợ chồng thường thụ thai trong vòng 1 năm. Do đó, việc tiến hành các xét nghiệm vào thời điểm này là hợp lý. Tuy nhiên, định nghĩa này nên được điều chỉnh bằng sự suy xét thông thường. Ví dụ, một phụ nữ đã mất cả hai vòi trứng do thai ngoài tử cung hoặc một người đàn ông được biết đã bị xoắn tinh hoàn thời trẻ không nên bị từ chối thăm dò và điều trị sớm.

Cả hai vợ chồng nên được khám và xét nghiệm cùng nhau, vì vô sinh có thể do yếu tố nam hoặc nữ và thường liên quan đến sự kết hợp của cả hai. Thực tế, trong 30% trường hợp nguyên nhân là do yếu tố nam, 30% do yếu tố nữ, 20% do cả yếu tố nữ và nam và 20% trường hợp vô sinh là ‘không rõ nguyên nhân’.

Các nghiên cứu theo dõi dài hạn các cặp vợ chồng vô sinh không rõ nguyên nhân đã chỉ ra rằng 30-40% sẽ thụ thai trong khoảng thời gian 7 năm sau khi xét nghiệm. Nhiều trường hợp ‘không rõ nguyên nhân’ liên quan đến phụ nữ trên 35 tuổi, những người sau này có thể được chứng minh là có đáp ứng kém với kích thích buồng trứng và bất thường về noãn nếu thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). Tuổi tác, đặc biệt là tuổi của người phụ nữ, chắc chắn ảnh hưởng đến khả năng sinh sản. Tỷ lệ thành công của IVF, được định nghĩa bằng tỷ lệ sinh sống, giảm mạnh sau tuổi 38 (Bảng 17.1). Ảnh hưởng của tuổi tác đối với nam giới ít rõ rệt hơn, nhưng nam giới lớn tuổi có nhiều bất thường về tinh trùng và phân mảnh DNA hơn.

Tỷ lệ tương đối của các yếu tố gây bệnh sẽ thay đổi tùy theo quốc gia và liệu vấn đề là nguyên phát hay thứ phát. Hơn nữa, ở nhiều cặp vợ chồng có nhiều lý do gây vô sinh. Bảng 17.2 cho thấy mô hình các yếu tố gây vô sinh nguyên phát ở một quần thể phương Tây.

Bệnh sử và thăm khám

Như đã đề cập, buổi tư vấn ban đầu nên có sự tham gia của cả hai vợ chồng. Nhiều phòng khám sử dụng một bảng câu hỏi mẫu để thu thập thông tin cơ bản, cho phép sử dụng tốt hơn thời gian có sẵn trong buổi tư vấn. Các xét nghiệm cơ bản, bao gồm xét nghiệm máu cơ bản cho cả hai vợ chồng và phân tích tinh dịch, có thể được tổ chức thông qua phòng khám đa khoa với kết quả có sẵn tại buổi gặp đầu tiên.

Bệnh sử nên bao gồm những điều sau:

  • Tuổi, nghề nghiệp và trình độ học vấn của cả hai vợ chồng.
  • Số năm đã cố gắng thụ thai và tiền sử tránh thai trước đây.
  • Các lần thụ thai trước đây của một trong hai người trong mối quan hệ này hoặc các mối quan hệ trước đó.
  • Chi tiết về bất kỳ biến chứng nào liên quan đến các lần mang thai, sinh nở và sau sinh trước đây.
  • Tiền sử phụ khoa đầy đủ, bao gồm tính đều đặn, tần suất và tính chất của kinh nguyệt; phết tế bào cổ tử cung; chảy máu giữa kỳ kinh; và khí hư âm đạo.
  • Tiền sử quan hệ tình dục, bao gồm tần suất giao hợp, đau khi giao hợp, chảy máu sau giao hợp và rối loạn cương dương hoặc xuất tinh.
  • Tiền sử các bệnh lây truyền qua đường tình dục và việc điều trị chúng.
  • Tiền sử bệnh nội khoa chung để bao gồm các bệnh nghiêm trọng hoặc phẫu thuật đồng thời hoặc trước đây, đặc biệt liên quan đến viêm ruột thừa ở nữ hoặc phẫu thuật thoát vị ở nam; tiền sử tinh hoàn ẩn hoặc phẫu thuật cố định tinh hoàn.

Nên xem xét việc thăm khám cả hai vợ chồng, mặc dù việc thăm khám nam giới khó có thể phát hiện bất cứ điều gì có ý nghĩa khi có kết quả phân tích tinh dịch bình thường; việc thăm khám phụ nữ cũng có thể không có gì đáng chú ý nếu có siêu âm vùng chậu chất lượng cao bình thường. Nam giới không có tinh trùng nên được kiểm tra xem có bất sản ống dẫn tinh hai bên bẩm sinh (CBAVD) hay không, tình trạng này có liên quan đến đột biến gen xơ nang.

Bảng 17.1 Tuổi của phụ nữ và tỷ lệ sinh sống trên mỗi lần chuyển phôi (tươi và đông lạnh) tại Vương quốc Anh (2015).

Dưới 35 35-37 38-39 40-42 43-44 Trên 44
Tươi 30 22 16 9 4 1
Đông lạnh 25 23 18 14 9 6
Dữ liệu lấy từ www.HFEA.gov.uk.

Bảng 17.2 Các nguyên nhân gây vô sinh

Chẩn đoán* Nhóm vô sinh nguyên phát (n=167) N (%) Nhóm vô sinh thứ phát (n=151) N (%) P-value
Vấn đề rụng trứng 54 (32.3) 35 (23.2) 0.069
Vấn đề chất lượng tinh trùng 49 (29.3) 36 (23.8) 0.268
Tắc vòi trứng 20 (12) 21 (13.9) 0.607
Vô sinh không rõ nguyên nhân 49 (29.3) 45 (29.8) 0.928
Lạc nội mạc tử cung 19 (10.7) 15 (10) 0.677
Các nguyên nhân khác 23 (13.8) 32 (21.2) 0.081

*Phụ nữ đã báo cáo nhiều hơn một chẩn đoán. Dữ liệu lấy từ một cuộc khảo sát tại phòng khám đa khoa ở Scotland (Bhattacharya S, và cộng sự (2010) Dịch tễ học về vô sinh ở Đông Bắc Scotland. Hum Reprod 24:3096-3107). Nguyên nhân vô sinh tự báo cáo của những phụ nữ có chẩn đoán (đông bắc Scotland). Dữ liệu phản ánh việc cố gắng thụ thai không thành công trong 12 tháng hoặc lâu hơn và/hoặc đã tìm kiếm sự trợ giúp y tế để thụ thai.

HỘP 17.1: Tình huống lâm sàng

Vợ chồng bà Y được giới thiệu đến phòng khám phụ khoa sau khi đã cố gắng thụ thai 5 năm nay mà không thành công. Bà Y 32 tuổi; mẹ bà mất vì ung thư vú ở tuổi 38. Bà không có tiền sử cá nhân hay gia đình nào khác. Kinh nguyệt của bà đều và không đau, có rụng trứng đều đặn. Lần phết tế bào cổ tử cung gần nhất của bà là 1 năm trước và bình thường. Chỉ số khối cơ thể (BMI) của bà là 23 và thăm khám lâm sàng bình thường.

Ông Y 33 tuổi. Ông không có tiền sử bệnh cá nhân. Ông có một người anh trai, chưa có con.

Kết quả xét nghiệm ban đầu của cặp vợ chồng cho thấy bà Y có hormone anti-müllerian (AMH) là 30 pmol/mL, hormone kích thích nang trứng (FSH) là 5 IU/L, hormone tạo hoàng thể (LH) là 3 IU/L và E2 là 130 pMol/L. Bà rụng trứng bình thường với progesterone ngày 21 là 53 nMol/L. Siêu âm của bà bình thường với bằng chứng thông hai vòi trứng. Bà cũng đã gặp một nhà di truyền học và không có đột biến BRCA có thể phát hiện. Ông Y được phát hiện không có tinh trùng và có pH tinh dịch axit.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ