Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

[SÁCH DỊCH] Sản phụ khoa Căn bản. Chương 20: Ung thư Phụ khoa

97 phút đọc

(SÁCH DỊCH) Sản Phụ khoa Căn bản – Essential Obstetrics and Gynaecology
Tác giả: Ian Symonds & Sabaratnam Arulkumaran – (C) NXB Elsevier
Ths.Bs. Lê Đình Sáng (Dịch và Chú giải)


Chương 20: Ung thư Phụ khoa
Gynaecological oncology
Hextan Y.S. Ngan; Karen K.L. Chan
Essential Obstetrics and Gynaecology, Chapter 20, 328-351


MỤC TIÊU HỌC TẬP

Sau khi học xong chương này, bạn sẽ có thể:

Tiêu chí kiến thức

  • Hiểu rõ dịch tễ học, nguyên nhân, chẩn đoán, quản lý và tiên lượng của ung thư phụ khoa.
  • Mô tả nguyên nhân, dịch tễ học và biểu hiện của các khối tân sinh thường gặp ở đường sinh dục nữ, bao gồm:
    • Tân sinh trong biểu mô âm hộ và cổ tử cung
    • Ung thư biểu mô âm hộ và âm đạo
    • Ung thư biểu mô cổ tử cung
    • Tăng sản nội mạc tử cung
    • Ung thư biểu mô nội mạc tử cung
    • Các khối u buồng trứng ác tính
  • Thảo luận về vai trò của các thủ thuật nhỏ và các phương pháp chẩn đoán hình ảnh trong việc quản lý các bệnh ung thư phụ khoa, bao gồm:
    • Lấy mẫu cổ tử cung và nội mạc tử cung
    • Siêu âm
    • Nội soi ổ bụng
    • Soi buồng tử cung
    • Chụp cộng hưởng từ và chụp cắt lớp vi tính
  • Liệt kê các biến chứng ngắn hạn và dài hạn của các liệu pháp nội khoa và ngoại khoa đối với ung thư phụ khoa.
  • Thảo luận về vai trò của sàng lọc và tiêm chủng trong phòng ngừa các bệnh ác tính ở đường sinh dục nữ.

Năng lực lâm sàng

  • Tư vấn cho một phụ nữ về sàng lọc giai đoạn tiền lâm sàng của ung thư biểu mô tế bào vảy cổ tử cung.
  • Lập kế hoạch thăm dò ban đầu cho những phụ nữ có triệu chứng của bệnh ác tính đường sinh dục.
  • Giao tiếp một cách nhạy cảm với một phụ nữ và gia đình của cô ấy về chẩn đoán ung thư phụ khoa.

Kỹ năng và thái độ chuyên nghiệp

  • Thảo luận về các nguyên tắc chăm sóc giảm nhẹ trong các bệnh ung thư phụ khoa.

Các tổn thương ở âm hộ


Tân sinh trong biểu mô âm hộ

Tân sinh trong biểu mô âm hộ (VIN) là một tình trạng đặc trưng bởi sự mất định hướng và mất cấu trúc kiến trúc của biểu mô, lan rộng hết toàn bộ độ dày của biểu mô. Trước đây, Tổ chức Y tế Thế giới đã phân loại VIN thành VIN-1, 2 và 3 dựa trên mức độ biểu mô bình thường bị thay thế bởi các tế bào loạn sản bất thường. Tuy nhiên, do VIN-1 chủ yếu tương ứng với condyloma không phải là tổn thương tiền ung thư, thuật ngữ VIN-1 đã bị loại bỏ, và VIN hiện nay đề cập đến VIN-2 và 3 trước đây trong phân loại mới nhất của Hiệp hội Quốc tế về Nghiên cứu Bệnh Âm hộ.

VIN được phân thành VIN thông thường (VIN cổ điển hoặc bệnh Bowen) và VIN biệt hóa (d-VIN) dựa trên các đặc điểm bệnh lý riêng biệt (Hộp 20.1). VIN thông thường thường xảy ra ở phụ nữ trẻ từ 30 đến 50 tuổi và có liên quan đến hút thuốc lá và nhiễm virus papilloma ở người (HPV). Bệnh nhân có thể không có triệu chứng, hoặc họ có thể phàn nàn về ngứa, đau, tiểu buốt và loét. Các tổn thương có thể có màu trắng, hồng hoặc có sắc tố dưới dạng mảng hoặc sẩn. Chúng thường được tìm thấy ở môi lớn, môi bé và mép sau âm hộ; 3-4% VIN thông thường có thể tiến triển thành bệnh xâm lấn.

d-VIN xảy ra ở phụ nữ sau mãn kinh và chỉ chiếm 2-10% tổng số các trường hợp VIN. Nó liên quan đến tăng sản vảy, lichen xơ hóa và lichen đơn dạng mạn tính và được coi là tiền thân của hầu hết các ung thư biểu mô tế bào vảy (SCC) sừng hóa xâm lấn âm tính với HPV. Bệnh nhân có các triệu chứng tương tự như lichen xơ hóa. Có thể tìm thấy các nốt, mảng hoặc vết loét màu xám, trắng, đỏ. Nó được tìm thấy trong tới 70-80% các trường hợp ung thư lân cận và có tiềm năng ác tính cao hơn VIN thông thường. Do đó, điều quan trọng là phải loại trừ bệnh ác tính khi phát hiện d-VIN.

Hộp 20.1 Tân sinh trong biểu mô âm hộ (VIN)
  • VIN vảy
    • VIN thông thường (trước đây là VIN cổ điển hoặc bệnh Bowen)
    • VIN biệt hóa (trước đây là VIN ‘đơn dạng’)
  • VIN không phải vảy
    • Bệnh Paget

Không giống như VIN phát sinh từ biểu mô vảy, bệnh Paget ngoài vú phát sinh từ biểu mô tuyến apocrine. Hình dạng của các tổn thương rất đa dạng, nhưng chúng có dạng sẩn và nổi gồ lên; có thể có màu trắng, xám, đỏ xỉn hoặc các sắc thái khác nhau của màu nâu; và có thể khu trú hoặc lan rộng (Hình 20.1). Những tình trạng này rất hiếm, với tỷ lệ mắc là 0,53/100.000, và thường xảy ra ở phụ nữ trên 50 tuổi. Bệnh Paget có liên quan đến ung thư biểu mô tuyến bên dưới hoặc bệnh ác tính nguyên phát ở nơi khác trong 20% trường hợp, chủ yếu là vú và ruột.

Hình 20.1 Bệnh Paget ở âm hộ.

Xử trí

Điều quan trọng là phải xác định chẩn đoán bằng sinh thiết (Hình 20.2) và tìm kiếm tân sinh trong biểu mô ở các vị trí khác như cổ tử cung và âm đạo, đặc biệt khi phát hiện VIN thông thường. Điều trị VIN thông thường bao gồm imiquimod, một chất điều hòa miễn dịch, liệu pháp laser và cắt bỏ bề mặt tổn thương da. Không có vai trò của điều trị nội khoa đối với d-VIN, và phẫu thuật cắt bỏ có xu hướng triệt để hơn so với VIN thông thường. Tái phát là phổ biến, và vì có nguy cơ tiến triển ác tính, đặc biệt là ở d-VIN, việc theo dõi lâu dài là cần thiết.

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Trang Chủ