Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Siêu âm Đa tham số trong Đánh giá Bệnh lý Gan Lan tỏa. CHƯƠNG 1. GÁNH NẶNG CỦA BỆNH LÝ GAN MẠN TÍNH

20 phút đọc

SIÊU ÂM ĐA THÔNG SỐ TRONG ĐÁNH GIÁ BỆNH LÝ GAN LAN TOẢ – PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN THỰC TẾ
Biên tập viên chính: R. Graham Barr, Giovanna Ferraioli MD – NXB Elsevier
Biên dịch & Chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng
Xuất bản trực tuyến duy nhất trên các website yhoclamsang.net – sachyhoc.com bởi THƯ VIỆN MEDIPHARM. 


CHƯƠNG 1. GÁNH NẶNG CỦA BỆNH LÝ GAN MẠN TÍNH
Guillermo A. Ortiz – Guadalupe Garcia-Tsao

Introduction
Multiparametric Ultrasound for the Assessment of Diffuse Liver Disease, CHAPTER 1, 1-6


Bệnh lý gan mạn tính (Chronic Liver Disease – CLD) là nguyên nhân đáng kể làm gia tăng bệnh suất (morbidity) và tử suất (mortality), đồng thời đóng góp phần lớn vào gánh nặng bệnh tật cũng như nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế trên toàn cầu. Ước tính mỗi năm thế giới có khoảng 2 triệu ca tử vong do CLD: 1 triệu ca liên quan đến các biến chứng của xơ gan (Cirrhosis) và 1 triệu ca liên quan đến viêm gan siêu vi (Viral Hepatitis) và ung thư biểu mô tế bào gan (Hepatocellular Carcinoma – HCC); con số này chiếm khoảng 3,5% tổng số ca tử vong trên toàn thế giới. Trong một ước tính toàn cầu năm 2019, CLD nằm trong 10 nguyên nhân hàng đầu gây ra số năm sống điều chỉnh theo mức độ tàn tật (Disability-Adjusted Life-Years – DALYs) ở nam giới và xếp thứ 16 trong dân số chung. Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ tử vong hiện tại được quy cho bệnh gan cũng như tỷ lệ hiện mắc (prevalence) của CLD và xơ gan có thể đang bị đánh giá thấp một cách có hệ thống.

Nghiên cứu về Gánh nặng Bệnh tật Toàn cầu (Global Burden of Disease) cho thấy tỷ lệ mắc mới (incidence) được chuẩn hóa theo tuổi của CLD và xơ gan đã tăng 13% từ năm 2000 đến năm 2017. Sự gia tăng này chủ yếu được thúc đẩy bởi tỷ lệ mắc mới xơ gan ở Châu Âu, các quần thể thu nhập cao ở Châu Á Thái Bình Dương, Đông Á, Đông Nam Á và Nam Á. Tại Hoa Kỳ, một nghiên cứu gần đây cho thấy từ năm 2007 đến 2017, tỷ lệ mắc mới của xơ gan và ung thư gan đã gia tăng 30%. Động lực chính đằng sau sự gia tăng được báo cáo của CLD nhiều khả năng liên quan đến tỷ lệ ngày càng tăng của hội chứng chuyển hóa (Metabolic Syndrome) và tình trạng lạm dụng rượu.

Dịch tễ học và sự phân bố các nguyên nhân gây CLD thay đổi theo địa lý, sắc tộc, nhóm tuổi và đang biến chuyển nhanh chóng. Trong số 1,5 tỷ người ước tính bị ảnh hưởng bởi CLD trên toàn thế giới vào năm 2017, bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (Nonalcoholic Fatty Liver Disease – NAFLD) chiếm 60%, viêm gan B chiếm 29%, viêm gan C chiếm 9% và bệnh gan do rượu (Alcoholic Liver Disease – ALD) chiếm 2%. Các nguyên nhân ít phổ biến hơn của CLD bao gồm các bệnh lý tự miễn và liên quan đến ứ mật như viêm gan tự miễn (Autoimmune Hepatitis), viêm đường mật mật tiên phát (Primary Biliary Cholangitis), viêm xơ hóa đường mật nguyên phát (Primary Sclerosing Cholangitis), và các bệnh lý chuyển hóa/di truyền như bệnh nhiễm sắc tố sắt mô (Hemochromatosis).

NAFLD có phổ bệnh lý rộng, bao gồm gan nhiễm mỡ đơn thuần (Simple Steatosis), viêm gan nhiễm mỡ không do rượu (Nonalcoholic Steatohepatitis – NASH) và xơ gan. Rất khó để ước tính tỷ lệ hiện mắc của các giai đoạn NAFLD trong dân số chung; dựa trên chẩn đoán hình ảnh (vốn không thể phân biệt rạch ròi giữa gan nhiễm mỡ đơn thuần, xơ hóa hay xơ gan), tỷ lệ hiện mắc NAFLD ước tính trên toàn thế giới là 25%, cao nhất ở Trung Đông (32%), Nam Mỹ (31%) và Châu Á (34%). Trong một tổng quan hệ thống (Systematic Review) và phân tích gộp (Meta-Analysis) gần đây về tỷ lệ hiện mắc của NAFLD tại Hoa Kỳ, ước tính khoảng một trong ba cư dân Hoa Kỳ bị gan nhiễm mỡ, với tỷ lệ cao hơn ở người gốc Tây Ban Nha; tỷ lệ hiện mắc NASH trong nhóm bệnh nhân NAFLD tại Hoa Kỳ ước tính khoảng 32,4% dựa trên mô bệnh học và các men chuyển (Transaminases). Dựa trên 11 nghiên cứu đánh giá tình trạng xơ hóa tiến triển (Advanced Fibrosis) ở bệnh nhân NAFLD, tỷ lệ hiện mắc ước tính gần 19%.

ALD cũng có phổ bệnh lý rộng, bao gồm viêm gan do rượu (Alcoholic Hepatitis), gan nhiễm mỡ đơn thuần, viêm gan nhiễm mỡ và xơ gan. Sự tiến triển qua các giai đoạn này phụ thuộc vào việc tiếp tục sử dụng rượu, bệnh gan đồng mắc và các yếu tố nguy cơ khác như giới tính nữ và yếu tố di truyền. Ước tính lạm dụng rượu gây ra 27% số ca tử vong do bệnh gan và 30% số ca ung thư gan trên thế giới. Với mức tiêu thụ rượu gia tăng toàn cầu, gánh nặng của ALD được dự báo sẽ tiếp tục leo thang.

Phân Độ Xơ Hóa Gan

CLD đặc trưng bởi sự lắng đọng lan tỏa và tiến triển của mô xơ (fibrous tissue) nhằm đáp ứng lại tổn thương hoặc viêm gan dai dẳng. Tổn thương gan lan tỏa này gây ra những thay đổi cấu trúc và thay thế cấu trúc tiểu thùy (lobular structure) bình thường của nhu mô gan, dẫn đến hình thành xơ gan.

Về mặt mô học, xơ hóa là một dải liên tục được chia thành các mức độ khác nhau; hệ thống phân độ được sử dụng rộng rãi nhất là thang điểm xơ hóa METAVIR (METAVIR fibrosis score) – về cơ bản giống với thang điểm xơ hóa NASH – phân loại mức độ xơ hóa thành năm giai đoạn tiến triển:

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Trang Chủ