Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Sinh lý học Hô hấp ứng dụng của Nunn & Lumb, ấn bản thứ 9. CHƯƠNG 32. HỖ TRỢ HÔ HẤP VÀ THÔNG KHÍ NHÂN TẠO

109 phút đọc

Sinh lý học Hô hấp ứng dụng của Nunn & Lumb, ấn bản thứ 9. Nunn and Lumb’s Applied Respiratory Physiology 9th Edition.
Chủ biên: Andrew Lumb, Caroline Thomas. Nhà xuất bản ELSEVIER. Biên dịch: Ts.Bs. Lê Nhật Huy, Ths.Bs. Lê Đình Sáng. ISBN-13: 978-0702079085. 
Ấn bản tiếng Việt của cuốn sách này được dịch & chia sẻ vì mục đích lan toả tri thức, hoàn toàn phi lợi nhuận, duy nhất trên các website sachyhoc.com & yhoclamsang.net của THƯ VIỆN MEDIPHARM. NGHIÊM CẤM THƯƠNG MẠI HOÁ bản dịch tiếng Việt của cuốn sách này dưới bất cứ hình thức nào.


CHƯƠNG 32. HỖ TRỢ HÔ HẤP VÀ THÔNG KHÍ NHÂN TẠO

Respiratory support and artificial ventilation
Andrew Lumb, MB BS FRCA; Caroline Thomas, BSc MBChB MRCS(Ed) FRCA
Nunn and Lumb’s Applied Respiratory Physiology, 32, 375-397.e3


ĐIỂM NHẤN MẠNH LÂM SÀNG

* Thông khí không xâm lấn có thể được sử dụng để tăng áp lực đường thở và hỗ trợ hệ hô hấp đang suy yếu mà không cần phải đặt nội khí quản hoặc mở khí quản.

* Thông khí áp lực dương ngắt quãng có thể được cung cấp thông qua nhiều kỹ thuật khác nhau, trong đó nhiều kỹ thuật được phối hợp đồng bộ với nỗ lực hô hấp của chính bệnh nhân.

* Áp lực dương cuối kỳ thở ra làm tăng dung tích cặn chức năng, giảm sức cản đường thở và có thể ngăn ngừa hoặc đảo ngược tình trạng xẹp phổi.

* Bất kỳ sự gia tăng nào của áp lực trung bình trong lồng ngực, như được thấy trong thông khí áp lực dương, đều làm suy giảm lượng máu tĩnh mạch trở về tim và làm tăng sức cản mạch máu phổi, do đó làm giảm cung lượng tim.

* Thông khí nhân tạo có thể làm tổn thương phổi do tạo ra các áp lực hoặc thể tích quá mức lên mô phổi, hoặc do gây ra sự đóng và mở lặp đi lặp lại của các đường thở nhỏ trong mỗi nhịp thở.

* Việc phát triển một lá phổi nhân tạo hữu ích trên lâm sàng vẫn chỉ là một khả năng xa vời, mặc dù các hệ thống ngoài cơ thể thay thế một phần chức năng trao đổi khí ở phổi vẫn đang tiếp tục phát triển.

Các chương từ 27 đến 31 đã phác thảo nhiều cách thức mà hệ hô hấp có thể thất bại trong việc đạt được mục tiêu chính là trao đổi khí. Chương này mô tả các kỹ thuật có sẵn cho các bác sĩ lâm sàng để cải thiện các chức năng trao đổi khí của hệ hô hấp, bao gồm việc hỗ trợ hoặc thay thế thông khí phế nang.

Vật Lý Trị Liệu Hô Hấp

Trong nhiều bệnh lý hô hấp được mô tả ở các Chương 27 đến 31, hệ hô hấp của bệnh nhân thường được điều trị bằng vật lý trị liệu. Phương pháp này đóng vai trò như một phần của quản lý dài hạn, ví dụ, trong các chương trình phục hồi chức năng phổi, nhưng cũng là một phần hữu ích trong điều trị các vấn đề cấp tính ở phổi, chẳng hạn như ở những bệnh nhân thở máy và trong giai đoạn hậu phẫu. Mặc dù các chuyên gia vật lý trị liệu tham gia rộng rãi vào quá trình chăm sóc hô hấp trên toàn thế giới, cơ sở bằng chứng cho việc cải thiện kết quả lâm sàng như một hệ quả trực tiếp của các can thiệp vật lý trị liệu vẫn còn yếu. Có nhiều lý do khả dĩ cho điều này, trong đó quan trọng nhất là sự thiếu hụt các nghiên cứu phù hợp, sự đánh giá chưa đầy đủ về hiệu ứng giả dược và vai trò của vật lý trị liệu như một thành phần của các gói chăm sóc (care bundles), vốn nhìn chung mang lại những tác động có lợi.

Sinh Lý Học Của Các Can Thiệp Hô Hấp

Mục tiêu của vật lý trị liệu hô hấp có thể được phân loại rộng rãi vào ba lĩnh vực sau đây.

Tăng Thể Tích Phổi

Vật lý trị liệu có thể giúp làm giảm nhẹ sự mất thể tích phổi do xẹp phổi (atelectasis), đông đặc phổi hoặc tràn dịch màng phổi. Các kỹ thuật bao gồm vận động có kiểm soát, trong đó bệnh nhân được hỗ trợ tập thể dục ở mức độ vừa đủ để làm tăng thông khí, tạo ra hơi thở sâu mà không gây lo lắng hay mệt mỏi quá mức, nói cách khác, học cách đạt được và duy trì trạng thái ‘hơi khó thở nhẹ’. Định vị tư thế bệnh nhân rất quan trọng để tăng thể tích phổi và sự tương xứng giữa thông khí/tưới máu, và tư thế ngồi thẳng nhìn chung mang lại lợi ích. Những bệnh nhân bị tràn dịch màng phổi hoặc có các khối u lớn trong lồng ngực thường tự học cách nằm với vùng phổi không bị ảnh hưởng hướng lên trên.

Các bài tập thở sâu có nhiều lợi ích cho hô hấp, hầu hết liên quan đến việc tái giãn nở và thông khí ở các vùng phổi phụ thuộc. Khuyến cáo thực hiện mười nhịp thở sâu mỗi giờ thức dậy, bao gồm cả việc giữ hơi ở cuối thì hít vào, nếu có thể. Phế dung kế khuyến khích (incentive spirometry) có thể giúp bệnh nhân đạt được lợi ích tối đa từ việc thở sâu. Các thiết bị này cung cấp phản hồi hình ảnh cho bệnh nhân về tốc độ dòng chảy và thể tích hít vào của họ, cho phép điều chỉnh các thông số này để đạt được giá trị tối ưu cho sự tái giãn nở phổi ở từng cá nhân. Áp lực đường thở dương liên tục (continuous positive airway pressure – CPAP) được sử dụng để tăng thể tích phổi và sẽ được mô tả ở phần sau. Cuối cùng, có thể sử dụng phương pháp thở áp lực dương ngắt quãng, trong đó một áp lực dương được áp dụng vào đường thở của bệnh nhân trong thì hít vào, theo sau là thì thở ra thụ động.

Giảm Công Hô Hấp

Chứng khó thở (dyspnoea) có thể được điều trị bằng nhiều kỹ thuật khác nhau và các nỗ lực cần hướng đến việc làm giảm cảm nhận của bệnh nhân về sự khó thở bằng cách hướng dẫn họ các kỹ thuật cụ thể để kiểm soát nhịp thở. Phục hồi chức năng phổi hoặc thông khí không xâm lấn (xem phần thảo luận sau) là hai kỹ thuật có thể làm tăng hiệu quả hoặc làm giảm khối lượng công việc của cơ hô hấp một cách tương ứng.

Làm Sạch Dịch Tiết

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ