SỔ TAY NHI KHOA HARRIET LANE – BỆNH VIỆN JOHNS HOPKINS (ẤN BẢN 24, 2026)
Chủ biên:Tolulope Fatola, Jillian Heckman, and Nathaniel J. Silvestri | Dịch và chú giải: Bs Lê Đình Sáng.
Bản dịch được chia sẻ hoàn toàn vì mục đích phi lợi nhuận. Nghiêm cấm thương mại hoá bản dịch của cuốn sách này dưới bất kỳ hình thức nào.
CHƯƠNG 11. NƯỚC VÀ ĐIỆN GIẢI
Fluids and Electrolytes
Gillean Connolly, MD MPH
Harriet Lane Handbook, The, Chapter 11, 307-329.e3
I. GIỚI THIỆU
Bác sĩ cần xem dịch truyền tĩnh mạch (intravenous fluids) như một loại thuốc.
Từ cuối những năm 1950, y văn chủ yếu dựa vào các ước tính của Holliday và Segar về nhu cầu natri để hướng dẫn lựa chọn dịch truyền tĩnh mạch. Dựa trên thành phần điện giải của sữa người, họ tính toán rằng một trẻ trung bình cần 3 mEq natri (Na) và 2 mEq kali (K) cho mỗi 100 đến 120 mL nước.
Theo tính toán của họ, bác sĩ có thể đáp ứng các nhu cầu chất hòa tan cơ bản của trẻ bằng cách sử dụng một dung dịch nhược trương (hypotonic fluid).
Mặc dù ước lượng này đã tạo nên một truyền thống lâu đời về liệu pháp truyền dịch duy trì tĩnh mạch (maintenance intravenous fluid – MIVF) trong nhi khoa, các bằng chứng công bố trong vài thập kỷ qua đã định hình lại thực hành này. Cụ thể, Hiệp hội Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics – AAP) đã ban hành các hướng dẫn mới, khuyến cáo ưu tiên sử dụng dung dịch đẳng trương (isotonic fluids) làm dịch truyền duy trì cho phần lớn trẻ em nhập viện.
II. HỒI SỨC DỊCH (FLUID RESUSCITATION)
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ