Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Nội khoa BẢN ĐỌC THỬ

Tăng Huyết Áp Trong Thai Kỳ

8 phút đọc

Đại cương

Tăng huyết áp là biến chứng nội khoa thường gặp nhất ở phụ nữ mang thai, chiếm khoảng 10% tổng số thai kỳ, là 1 trong 3 nguyên nhân quan trọng gây tử vong mẹ trên toàn thế giới.

Phân loại

(theo ACOG 2014) Gồm 4 nhóm:

Tiền sản giật – sản giật:

Sản giật:

Đây là biến chứng nặng. Cơn co giật có thể xảy ra trước sinh, trong khi chuyển dạ, hoặc sau sinh 48 – 72 giờ.

Hội chứng HELLP:

Xảy ra trước hoặc sau sinh.

Lâm sàng: đau vùng thượng vị hoặc hạ sườn phải, nhìn mờ, nhức đầu, vàng da, buồn nôn, nôn.

CLS: dấu hiệu tán huyết (LDH tăng, Billirubin GT tăng), tăng men gan và giảm tiểu cầu.

15-20% hội chứng này không có tăng huyết áp, không có protein niệu.

Tăng ha mạn:

HA tâm thu ≥ 140mmHg và/hoặc HA tâm trương ≥ 90mmHg trước khi có thai, hoặc xảy ra trước tuần lễ 20 của thai kỳ và kéo dài sau 12 tuần hậu sản.

Tsg trên nền tăng ha mạn:

Người bệnh có tăng HA trước tuần lễ 20, protein niệu (+) trước hoặc sau tuần lễ 20, cần phải tăng liều thuốc điều trị HA, tăng men gan đột ngột, giảm tiểu cầu, đau ¼ trên phải, sung huyết phổi hay phù phổi, giảm chức năng thận hoặc đột ngột tăng tiểu đạm.

Tăng ha trong thai kỳ:

Tăng HA sau tuần lễ 20, protein niệu (-), không có các dấu hiệu kể trên.

Xử trí

Theo dõi sát HA cho đến 72 giờ sau sinh cho tất cả trường hợp tăng HA trong thai kỳ và theo dõi HA 7-10 ngày sau sinh tại địa phương.

Tsg không dấu hiệu nặng

Có thể theo dõi, điều  trị ngoại trú.

Nhập viện, CDTK (chấm dứt thai kỳ) khi:

Thai ≥ 37 tuần, hoặc

Nghi ngờ nhau bong non, hoặc

Thai ≥ 34 tuần và có bất kỳ triệu chứng sau:

Chuyển dạ hoặc vỡ ối.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ