Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Nội khoa BẢN ĐỌC THỬ

Thiếu hụt hoặc kháng vitamin D và giảm phosphat máu

34 phút đọc

Thiếu hụt hoặc kháng vitamin D và giảm phosphat máu

Vijaya Sarathia, Melkunte Shanthaiah Dhananjayaa, Manjiri Karlekarb, Anurag Ranjan Lilab

a Khoa Nội tiết, Viện Khoa học Y khoa và Nghiên cứu Vydehi, Bengaluru 560066, Ấn Độ

b Khoa Nội tiết, Trường Y Seth G S và Bệnh viện King Edward, Mumbai 400012, Ấn Độ

Dịch và chú thích: Bs Ths Lê Đình Sáng

Vitamin D chủ yếu được tổng hợp ở da (cholecalciferol) thông qua phơi nắng trong khi một phần nhỏ được hấp thu từ thực phẩm (ergocalciferol). Vitamin D tiếp tục được chuyển hóa thành 25-hydroxyvitamin D và 1,25-dihydroxy vitamin D (calcitriol) lần lượt ở gan và thận. Calcitriol là dạng hoạt động trung gian tác dụng của vitamin D thông qua thụ thể vitamin D (VDR) có mặt khắp nơi. Khiếm khuyết ở bất kỳ mức độ nào trong con đường này đều dẫn đến còi xương do thiếu hoặc kháng vitamin D. Thiếu vitamin D do dinh dưỡng là nguyên nhân hàng đầu gây còi xương và loãng xương khắp thế giới và đáp ứng tốt với bổ sung vitamin D. Rối loạn di truyền chuyển hóa vitamin D (còi xương phụ thuộc vitamin D, VDDR) chiếm một tỷ lệ nhỏ trong các trường hợp còi xương/loãng xương do thiếu calci. Khiếm khuyết hydroxyl hóa 1α vitamin D, hydroxyl hóa 25 vitamin D và thụ thể vitamin D lần lượt gây ra VDDR1A, VDDR1B và VDDR2A, trong khi gắn kết khiếm khuyết của vitamin D với phần tử đáp ứng vitamin D do biểu hiện quá mức của heterogeneous nuclear ribonucleoprotein và chuyển hóa vitamin D tăng tốc lần lượt gây ra VDDR2B và VDDR3. Hấp thu calci từ thức ăn suy giảm và thiếu hụt calci làm tăng hormone tuyến cận giáp trong các rối loạn này dẫn đến tăng bài tiết phosphat niệu và giảm phosphat máu. Giảm phosphat máu là đặc điểm phổ biến của tất cả các rối loạn này, mặc dù không phải là dấu hiệu bệnh và dẫn đến giảm khoáng hóa xương và bệnh cơ. Cải thiện tình trạng giảm phosphat máu là một trong những dấu hiệu sớm nhất của đáp ứng với bổ sung vitamin D trong còi xương/loãng xương do dinh dưỡng và thiếu đáp ứng như vậy nên thúc đẩy đánh giá các dạng di truyền của còi xương/loãng xương.

I. GIỚI THIỆU

Vitamin D chủ yếu được sản xuất ở da thông qua phơi nắng. Khi tiếp xúc với tia cực tím B (∼290-315 nm), 7-dehydrocholesterol (tiền vitamin D3) trong da được chuyển đổi thành previtamin D3 và sau đó đồng phân hóa nhiệt thành vitamin D3 để đi vào tuần hoàn. Vitamin D3 liên kết với protein gắn vitamin D trong tuần hoàn và được vận chuyển đến gan, nơi nó được chuyển đổi thành 25-hydroxyvitamin D (25OHD). Hydroxyl hóa ở vị trí 25 của vitamin D chủ yếu được thực hiện bởi 25-hydroxylase vi thể được mã hóa chủ yếu bởi CYP2R1. 25OHD là dạng vitamin D lưu hành phổ biến nhất và cũng là chỉ số đáng tin cậy nhất về tình trạng vitamin D. 25OHD sau đó được chuyển đổi trong thận thành 1,25(OH)2 vitamin D [1,25(OH)2D] (dạng hoạt động nhất của vitamin D) bởi 1α-hydroxylase được mã hóa bởi CYP27B1. Hydroxyl hóa ở vị trí 24 của 25OHD và 1,25(OH)2D thành 24,25(OH)2D và 1,24,25(OH)3D tương ứng là con đường chính để bất hoạt vitamin D và được trung gian bởi 24-hydroxylase được mã hóa bởi CYP24A1. CYP3A4 đóng vai trò phụ trong việc bất hoạt vitamin D, chuyển đổi 25OHD và 1,25(OH)2D thành 4β,25(OH)2D và 1,23,25(OH)3D tương ứng.

Hình 1. Sơ đồ quá trình chuyển hóa Vitamin D

II. VAI TRÒ CỦA VITAMIN D TRONG CHUYỂN HÓA PHOSPHAT

Phosphorus từ thức ăn được hấp thu ở ruột non, chủ yếu ở tá tràng và hỗng tràng. Hấp thu phosphat ở ruột được thực hiện bởi ít nhất hai con đường riêng biệt: qua tế bào và cạnh tế bào. Vận chuyển phosphat thụ động cạnh tế bào thông qua Na+/H+ exchanger 3 (NHE3, SLC9A3) chiếm phần lớn (65-80%) hấp thu phosphat ở ruột, trong khi hấp thu phosphat qua tế bào chiếm phần còn lại và được trung gian bởi chất vận chuyển phosphat phụ thuộc natri type II 2b (NaPi-IIb, SLC34A2). Cơ chế sau được điều hòa bởi vitamin D, chiếm khoảng 30% hấp thu phosphat phụ thuộc vitamin D.

III. VAI TRÒ CỦA VITAMIN D TRONG CHUYỂN HÓA PHOSPHAT (tiếp)

Nồng độ phosphorus thấp trong máu dẫn đến tăng tổng hợp 1,25 dihydroxy vitamin D, độc lập với nồng độ PTH, thông qua điều hòa tăng phiên mã của gen 1α-hydroxylase. Có vẻ như tác động kích thích của phosphorus lên sản xuất 1,25(OH)2D phụ thuộc vào trục GH/IGF-1 nguyên vẹn. Thú vị là sự điều hòa calci-phosphat bởi vitamin D chủ yếu thông qua các tác động qua gen. Tuy nhiên, có một số bằng chứng ủng hộ tác động không qua gen của nó trong hấp thu phosphorus ở ruột thông qua protein disulfide isomerase họ A thành viên 3 (PDIA3).

Hình 2. Cơ chế điều hòa phosphorus bởi Vitamin D

Vitamin D dường như không có vai trò trực tiếp trong điều hòa xử lý phosphorus ở thận. Tuy nhiên, nó có thể có tác động gián tiếp thông qua tăng FGF23 có thể làm giảm tái hấp thu phosphat, điều này có thể bù trừ nhẹ tác động tích cực của vitamin D lên nồng độ phosphorus máu. 1,25(OH)2D cũng có thể đóng vai trò trong tái hấp thu phosphat từ xương. 1,25(OH)2D chủ yếu tác động lên nguyên bào xương, sau đó kích thích hủy cốt bào để gây hấp thu xương. Hoạt động hủy cốt bào tăng này cũng được quan sát thấy ở chuột cắt tuyến giáp-cận giáp, cho thấy vai trò độc lập với PTH của 1,25(OH)2D trong hấp thu xương.

Hình 3. Cơ chế điều hòa phosphorus bởi PTH tại ống thận

Chú thích: PTH: Hormone tuyến cận giáp; PLC: Phospholipase C; PKC: Protein kinase C; cAMP: Cyclic adenosine monophosphate; PKA: Protein kinase A; ERK1/2: Extracellular signal-regulated kinases 1/2; NaPi-IIa: Na+-dependent phosphate cotransporter IIa

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ