Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Ung thư Phổi – Cách tiếp cận Quản lý Đa ngành Dựa trên bằng chứng. CHƯƠNG 2. CÁC KỸ THUẬT CHẨN ĐOÁN UNG THƯ PHỔI

76 phút đọc

Ung thư Phổi – Cách tiếp cận Quản lý Đa ngành Dựa trên bằng chứng (Lung Cancer: An Evidence-Based Approach to Multidisciplinary Management)
(C) 2025 Nhà xuất bản ELSEVIER – Nguyên tác bởi: Erin Alexis Gillaspie, Leora Horn, Amanda S. Cass
Dịch & Chú giải: TS.BS. LÊ NHẬT HUY, THS.BS. LÊ ĐÌNH SÁNG 
Xuất bản trực tuyến vì mục đích phi lợi nhuận, duy nhất trên các website yhoclamsang.net và sachyhoc.com bởi THƯ VIỆN MEDIPHARM


CHƯƠNG 2. CÁC KỸ THUẬT CHẨN ĐOÁN UNG THƯ PHỔI

Jasleen Pannu, MD Van K. Holden, MD Alberto Revelo, MD Christian Ghattas, MD Vivek Murthy, MD


 

ĐIỂM NHẤN MẠNH LÂM SÀNG

• Việc thiết lập chẩn đoán mô học và phân giai đoạn ung thư phổi phù hợp là rất quan trọng để tránh chậm trễ trong điều trị.

• Phân giai đoạn không xâm lấn đóng vai trò quan trọng trong phân giai đoạn lâm sàng ban đầu của ung thư phổi và bao gồm các phương thức chẩn đoán hình ảnh như chụp cắt lớp vi tính (computed tomography – CT) và chụp cắt lớp phát xạ positron (positron emission tomography – PET).

• Xác định xác suất tiền nghiệm (pretest probability) về nguy cơ ác tính của một nhân phổi bằng cách sử dụng một mô hình (chẳng hạn như Mô hình Mayo Clinic) rất hữu ích trong việc hướng dẫn các bước đánh giá và quản lý tiếp theo.

• Các kỹ thuật trong lòng phế quản (endobronchial techniques) cho những can thiệp chẩn đoán và điều trị rất đa dạng và tiếp tục được mở rộng nhằm nâng cao độ chính xác chẩn đoán. Các thủ thuật thường được thực hiện bao gồm sinh thiết trong lòng phế quản, chải rửa phế quản, sinh thiết phổi xuyên vách phế quản, chọc hút bằng kim xuyên vách phế quản, siêu âm nội soi phế quản dạng tia và rửa phế quản phế nang.

• Nội soi phế quản điều hướng điện từ (electromagnetic navigational bronchoscopy) tạo ra một bản đồ ảo được chồng khớp với giải phẫu của bệnh nhân, cho phép bác sĩ thực hiện thủ thuật tạo ra một đường dẫn tiếp cận trực tiếp đến tổn thương cần quan tâm.

• X-quang tăng sáng truyền hình tăng cường thực tế ảo (augmented fluoroscopy) hoặc chụp cắt lớp vi tính chùm tia hình nón (cone beam CT) có thể được kết hợp với nội soi phế quản điều hướng điện từ để giúp tăng cường khả năng định hướng và độ chính xác chẩn đoán.

• Nội soi phế quản ống mềm tích hợp siêu âm nội soi phế quản đã trở thành phương pháp tiếp cận chủ đạo để đánh giá các hạch bạch huyết trung thất và rốn phổi trong phân giai đoạn ung thư phổi.

• Sinh thiết kim nhỏ và sinh thiết lõi xuyên da dưới hướng dẫn của hình ảnh có thể được thực hiện an toàn ở môi trường ngoại trú với độ chính xác cao.

GIỚI THIỆU

Vào đầu những năm 1900, ung thư phổi nguyên phát được xem là một trong những “dạng ung thư tản mác” (sporadic forms of cancer). Phương pháp điều trị duy nhất hiện có lúc bấy giờ là kiểm soát triệu chứng, và ung thư phổi được coi là “hoàn toàn nằm ngoài tầm với của bác sĩ phẫu thuật”. Mãi cho đến khi Adler báo cáo 374 trường hợp ung thư phổi nguyên phát vào năm 1912, phạm vi dịch tễ học của căn bệnh này mới bắt đầu được công nhận. Ông lưu ý rằng chỉ có một vài trường hợp phẫu thuật có thể mang lại lợi ích cho bệnh nhân và góp phần kéo dài tuổi thọ. Khi đó, việc chẩn đoán sớm ung thư phổi đã được nhấn mạnh mạnh mẽ và được tuyên bố là “niềm hy vọng duy nhất” cho nhóm bệnh nhân này.

Hơn 100 năm sau, tỷ lệ hiện mắc (prevalence) của ung thư phổi và gánh nặng chăm sóc sức khỏe liên quan đến nó đã tăng lên đáng kể. Số ca tử vong hàng năm do ung thư phổi ở Hoa Kỳ hiện nay đã vượt qua tổng số ca tử vong do ung thư vú, ung thư đại tràng và ung thư tuyến tiền liệt cộng lại.

Sự gia tăng tỷ lệ mắc mới (incidence) ung thư phổi trong lịch sử phản ánh sự gia tăng của tỷ lệ hút thuốc sau Thế chiến II. Vào năm 1954 và 1964, hai báo cáo mang tính bước ngoặt đã được công bố cho thấy mối liên hệ mật thiết giữa việc hút thuốc với ung thư phổi. Sau những báo cáo này, cả tỷ lệ hút thuốc cũng như tỷ lệ mắc ung thư phổi đều ghi nhận sự suy giảm. Tỷ lệ hiện mắc của việc hút thuốc đã tiếp tục giảm trong thập kỷ qua – hiện ở mức 15,1% so với khoảng 20% trước đây, và sự sụt giảm này cũng được nhìn thấy ở ung thư phổi. Tuy nhiên, ung thư phổi vẫn còn quá phổ biến. Một cách tiếp cận có hệ thống để chẩn đoán và quản lý ung thư phổi sẽ tiếp tục là một nhu cầu y tế cấp bách trong vài thập kỷ tới.

Khả năng sống sót sau 10 năm ước tính của ung thư giai đoạn I trên lâm sàng được báo cáo có thể cao tới 88%; tuy nhiên, con số này giảm dần khi giai đoạn lâm sàng của bệnh tại thời điểm chẩn đoán tăng lên. Do đó, việc phát hiện và chẩn đoán sớm đóng một vai trò then chốt trong việc giảm tỷ lệ tử vong do căn bệnh này. Sàng lọc ung thư phổi đã được chứng minh là làm giảm tỷ lệ tử vong bằng cách tạo điều kiện phát hiện bệnh sớm. Số lượng nhân phổi (lung nodules) được phát hiện tình cờ trên các phim chụp cắt lớp vi tính (computed tomography – CT) đang tăng lên mỗi năm, thực tế là gần 1,5 triệu nhân phổi được phát hiện hàng năm ở Hoa Kỳ, từ đó nhấn mạnh tầm quan trọng của các công cụ tiên tiến và chính xác để sinh thiết nhân phổi.

CÁCH TIẾP CẬN CHẨN ĐOÁN VÀ PHÂN GIAI ĐOẠN UNG THƯ PHỔI

Việc thiết lập chẩn đoán mô học và phân giai đoạn ung thư phổi phù hợp là rất quan trọng để tránh chậm trễ trong điều trị. Các vị trí được nhắm mục tiêu để sinh thiết mô phải cung cấp được cả thông tin chẩn đoán và phân giai đoạn thông qua phương pháp tiếp cận an toàn nhất.

Các hệ thống phân giai đoạn đối với ung thư phổi cũng đã phát triển đáng kể trong vài thập kỷ qua. Hệ thống phân giai đoạn TNM (khối u [tumor], sự liên quan của hạch bạch huyết [nodal involvement], di căn xa [distant metastasis]), được sử dụng để xác định giai đoạn ung thư phổi, hiện đã có phiên bản thứ tám. Các phương pháp chẩn đoán và phân giai đoạn không xâm lấn (hình ảnh học) và xâm lấn sẽ được mô tả chi tiết ở phần sau.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ