Ung thư Phổi – Cách tiếp cận Quản lý Đa ngành Dựa trên bằng chứng (Lung Cancer: An Evidence-Based Approach to Multidisciplinary Management)
(C) 2025 Nhà xuất bản ELSEVIER – Nguyên tác bởi: Erin Alexis Gillaspie, Leora Horn, Amanda S. Cass
Dịch & Chú giải: TS.BS. LÊ NHẬT HUY, THS.BS. LÊ ĐÌNH SÁNG
Xuất bản trực tuyến vì mục đích phi lợi nhuận, duy nhất trên các website yhoclamsang.net và sachyhoc.com bởi THƯ VIỆN MEDIPHARM
CHƯƠNG 3. MÔ HỌC VÀ XÉT NGHIỆM PHÂN TỬ
Michael Cabanero, MD Prodipto Pal, MD, PhD Ming-Sound Tsao, MD, FRCPC, FRSC, FCAHS
|
ĐIỂM NHẤN MẠNH LÂM SÀNG |
|---|
| • Lĩnh vực giải phẫu bệnh phân tử đang tiến nhanh tới các phương pháp phát hiện kỹ thuật số và không xâm lấn, khi các dấu ấn sinh học điều trị kết hợp chẩn đoán (theragnostic biomarkers) đang được sử dụng để định hướng phác đồ quản lý bệnh ung thư.
• Xét nghiệm dấu ấn sinh học hiện nay đã trở thành nền tảng trong việc đưa ra quyết định điều trị cho bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa. • Các dấu ấn sinh học phân tử trước đây vốn chỉ dành cho bệnh ở giai đoạn tiến xa thì nay đóng vai trò quan trọng ở cả bệnh nhân giai đoạn sớm với tình trạng bộc lộ PD-L1, và các yêu cầu xét nghiệm phân tử đang thay đổi nhanh chóng trong tất cả các giai đoạn bệnh. • Phân loại ung thư biểu mô tuyến ở phổi tiếp tục phát triển với những thay đổi về cách phân loại kích thước (ung thư biểu mô tuyến tại chỗ so với ung thư biểu mô tuyến xâm lấn tối thiểu) và chú trọng nhiều hơn vào các kiểu phát triển mô học: kiểu bám vách (lepidic), nang tuyến (acinar), nhú (papillary), vi nhú (micropapillary), hoặc đặc (solid). • Một trong những thay đổi của ấn bản lần thứ tám về phân loại giai đoạn ung thư phổi là thách thức trong việc phân biệt các khối u nguyên phát riêng biệt đồng thời so với các khối u di căn. • Danh pháp và báo cáo giải phẫu bệnh đã được chuẩn hóa, có tính đến đặc điểm hình thái học và mức độ biểu hiện của các dấu ấn hóa mô miễn dịch. |
Giới Thiệu
Ung thư phổi là loại ung thư ác tính nhất ở người và vẫn là nguyên nhân phổ biến gây tử vong trên thế giới, với 1,8 triệu ca mắc mới (13% tổng số ca chẩn đoán ung thư) và khoảng 1,59 triệu ca tử vong trên toàn thế giới vào năm 2012. Ung thư phổi được phân loại rộng rãi thành ung thư biểu mô không tế bào nhỏ (non-small cell carcinoma – NSCC) và ung thư biểu mô tế bào nhỏ (small cell carcinoma – SCC) dựa trên loại tế bào và hình thái học. NSCC được phân loại sâu hơn theo loại tế bào mô học thành ung thư biểu mô tuyến (adenocarcinoma) và ung thư biểu mô vảy (squamous cell carcinoma) cùng với các phân tuýp hiếm gặp hơn. Ung thư biểu mô tuyến ở phổi cho đến nay là phân tuýp phổ biến nhất, chiếm khoảng 50% tổng số ca ung thư phổi và 60% số ca ung thư biểu mô không tế bào nhỏ. Trong thời gian gần đây, việc phân loại mô học một cách chính xác NSCC là điều cần thiết, vì nó mang tính quyết định trong việc lựa chọn bệnh nhân để tiến hành xét nghiệm sâu hơn về các đột biến phân tử có liên quan đến các liệu pháp nhắm trúng đích hiệu quả. Việc phân loại NSCC này đã được công nhận và nhấn mạnh trong hệ thống phân loại các khối u phổi của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2015, trong đó các dấu ấn miễn dịch đặc hiệu theo dòng tế bào đã được chính thức tích hợp vào các tiêu chuẩn chẩn đoán đối với các tuýp mô học ung thư phổi không tế bào nhỏ, đặc biệt là đối với các khối u kém biệt hóa trong bối cảnh mẫu sinh thiết nhỏ.
Phân loại hình thái mô học của ung thư biểu mô phổi lần đầu tiên được Marchesani đề xuất vào năm 1924 và sau đó đã được đưa vào hệ thống phân loại mô học khối u phổi của WHO năm 1967. Phân loại các khối u phổi đã trải qua nhiều lần sửa đổi kể từ đó, đặc biệt là đối với ung thư biểu mô tuyến. Các loại mô học chính trong hệ thống phân loại của WHO năm 2015 bao gồm ung thư biểu mô tuyến; ung thư biểu mô vảy; các khối u thần kinh nội tiết bao gồm ung thư biểu mô tế bào nhỏ và ung thư biểu mô thần kinh nội tiết tế bào lớn, ung thư biểu mô tế bào lớn, và ung thư biểu mô dạng sarcom; cùng với loại ung thư biểu mô dạng tuyến nước bọt hiếm gặp hơn (Bảng 3.1).
Bảng 3.1 Phân Loại Chính của Ung Thư Biểu Mô Phổi Không Tế Bào Nhỏ
| Loại Mô Học Chính | Phân tuýp | Tiêu Chuẩn Chẩn Đoán Dựa Trên Hình Thái và Nhuộm Hóa Mô Miễn Dịch |
|---|---|---|
| Ung thư biểu mô vảy | Ung thư biểu mô tại chỗ | Biểu mô vảy chuyển sản có sự biến đổi loạn sản toàn bộ bề dày với các nhân chia |
| Sừng hóa | Có cầu sừng và các cầu nối gian bào | |
| Không sừng hóa | Không có bằng chứng hình thái của sự sừng hóa, nhưng dương tính lan tỏa với p40 hoặc p63 | |
| Dạng đáy | Tế bào u đồng dạng, tăng sắc với sự xếp hàng rào hạt nhân ở ngoại vi; hoại tử dạng trứng cá (comedo-type) phổ biến; dương tính với p40/p63 | |
| Ung thư biểu mô tuyến | ||
| Ung thư biểu mô tuyến không tiết nhầy | Bám vách (Lepidic) | Tế bào u phát triển dọc theo các vách phế nang có từ trước. Sự phát triển bám vách đơn thuần được coi là “không xâm lấn” hoặc ung thư biểu mô tuyến tại chỗ |
| Nang tuyến (Acinar) | Hình thành tuyến với lòng ống trung tâm và được lót bởi các tế bào u hình khối | |
| Nhú (Papillary) | Các tế bào tuyến có lõi trục xơ mạch ở trung tâm; khối u xâm lấn thường thiếu phản ứng xơ hóa mô đệm (desmoplastic stromal reaction) | |
| Vi nhú (Micropapillary) | Các búi tế bào thiếu lõi trục xơ mạch trung tâm. Thường bong tróc và lan rộng qua các khoang phế nang (STAS) là hiện tượng phổ biến | |
| Đặc (Solid) | Các đám tế bào đa diện thiếu cấu trúc tuyến rõ rệt; dương tính với TTF-1 hoặc chứng minh sự hiện diện của chất nhầy trong bào tương | |
| Ung thư biểu mô tuyến tiết nhầy xâm lấn | Tế bào hình trụ hoặc tế bào đài chứa dồi dào chất nhầy trong bào tương; có thể âm tính với TTF-1 (85%) | |
| Các biến thể khác | Dạng keo (Colloid) | Các hồ chất nhầy đi kèm với sự phá hủy cấu trúc vách phế nang |
| Dạng thai (Fetal) | Các tuyến phức tạp với các tế bào u không có lông chuyển, biểu hiện bào tương sáng giàu glycogen ở vùng dưới nhân giống như phổi thai nhi | |
| Dạng ruột (Enteric) | Bắt chước ung thư biểu mô tuyến đại trực tràng với các tuyến phức tạp được tạo thành bởi các tế bào hình trụ cao giống hệt tế bào ruột với tình trạng hoại tử nổi bật | |
| Ung thư biểu mô tuyến-vảy | Cả hai thành phần ung thư biểu mô tuyến và ung thư biểu mô vảy đều hiện diện, đòi hỏi mỗi thành phần phải chiếm tỷ lệ ít nhất là 10% | |
| Ung thư biểu mô tế bào lớn | Ung thư biểu mô không tế bào nhỏ kém biệt hóa, thiếu đi các dấu ấn của ung thư biểu mô tuyến (TTF-1/Napsin A/chất nhầy) và ung thư biểu mô vảy (p40/p63). Là chẩn đoán loại trừ và chỉ nên dành cho các mẫu bệnh phẩm phẫu thuật cắt bỏ | |
| Ung thư biểu mô đa hình/dạng sarcom | Đa hình (Pleomorphic) | Ung thư biểu mô không tế bào nhỏ có ít nhất 10% là tế bào hình thoi hoặc tế bào khổng lồ |
| Tế bào hình thoi | Hoàn toàn bao gồm các tế bào u hình thoi | |
| Tế bào khổng lồ | Hoàn toàn bao gồm các tế bào u khổng lồ | |
| Carcinosarcoma | Khối u hai pha gồm thành phần ung thư biểu mô không tế bào nhỏ (ung thư biểu mô tuyến hoặc ung thư biểu mô vảy) và các thành phần dị chủng dạng sarcom | |
| U nguyên bào phổi (Pulmonary blastoma) | Khối u hai pha với mô đệm trung mô nguyên thủy và ung thư biểu mô tuyến dạng thai | |
| Ung thư biểu mô NUT | Khối u dòng vảy độ ác tính cao; sừng hóa đột ngột và dương tính với hóa mô miễn dịch NUT; sự dung hợp BRD3- hoặc BRD4-NUT có thể được phát hiện thông qua phương pháp lai tại chỗ gắn huỳnh quang | |
| Ung thư biểu mô giống biểu mô lympho | Hạt nhân nổi bật đi kèm với tế bào viêm. Thường gặp ở những người không hút thuốc, gốc Á. p40/p63+ và EBER1 qua phương pháp lai tại chỗ có sinh màu |
Được điều chỉnh từ Travis WD, Burke BE, Marx AP, Nicholson AG. Phân loại của WHO về Các khối u ở Phổi, Màng phổi, Tuyến ức và Tim. Ấn bản lần thứ 4. Lyon, Pháp: IARC; 2015.
Ung Thư Biểu Mô Tuyến Ở Phổi
Theo y văn, ung thư biểu mô tuyến thường nằm ở vùng ngoại vi của phổi. Tuy nhiên, các công bố gần đây cho thấy nhiều khối u phổi ở trung tâm xét về mặt mô học cũng là ung thư biểu mô tuyến; cụ thể, có đến 30% ung thư biểu mô tuyến chiếm ưu thế dạng đặc hoặc vi nhú và thậm chí khoảng 20% ung thư biểu mô tuyến chiếm ưu thế dạng nang tuyến là các khối u ở trung tâm. Trên đại thể, hầu hết các bệnh lý ung thư biểu mô tuyến xuất hiện dưới dạng các nốt màu nâu xám đến xám trắng có hình dạng bất thường. Chúng thường biểu hiện sự tạo sẹo, lắng đọng sắc tố bụi than (anthracotic pigment), và nếu nằm gần màng phổi, sẽ gây hiện tượng co kéo màng phổi. Những khối u được gọi là “không xâm lấn” có kiểu phát triển bám vách (lepidic growth) của tế bào u trên cấu trúc phế nang có từ trước có thể khó phát hiện trên các mẫu bệnh phẩm tươi.
Một thay đổi lớn gần đây trong phân loại ung thư biểu mô tuyến ở phổi liên quan đến việc công nhận kiểu phát triển bám vách thuần túy là “không xâm lấn” (Hình 3.1A). Khối u có đường kính < 3 cm hiện được chỉ định là ung thư biểu mô tuyến tại chỗ (adenocarcinoma in situ – AIS) và các khối u có diện tích xâm lấn < 0,5 cm được gọi là ung thư biểu mô tuyến xâm lấn tối thiểu (minimally invasive adenocarcinomas – MIAs). AIS và MIA là các khối u không phổ biến và chiếm khoảng 5% trong số các bệnh lý ung thư biểu mô tuyến được phẫu thuật cắt bỏ.
Ung thư biểu mô tuyến ở phổi cũng được chia nhóm dựa trên loại tế bào thành ung thư biểu mô tuyến không tiết nhầy và ung thư biểu mô tuyến tiết nhầy. Ung thư biểu mô tuyến không tiết nhầy phổ biến hơn và được phân nhóm thêm dựa trên năm kiểu phát triển mô học: kiểu bám vách (không xâm lấn), nang tuyến, nhú, vi nhú, hoặc đặc (xem Hình 3.1A-E); bốn kiểu sau được coi là các kiểu xâm lấn. Vì hầu hết các trường hợp ung thư biểu mô tuyến thể hiện sự pha trộn của nhiều kiểu phát triển khác nhau, tỷ lệ của các kiểu mô học này cần được ước tính với mức tăng gia số là 5%, và ung thư biểu mô tuyến xâm lấn được phân loại dựa theo kiểu phổ biến nhất hoặc chiếm ưu thế nhất. Phân loại phân tuýp này đòi hỏi phải khảo sát toàn bộ khối u và do đó chỉ có thể áp dụng chủ yếu đối với các bệnh phẩm phẫu thuật. Đối với phần lớn các mẫu chẩn đoán (sinh thiết nhỏ hoặc mẫu tế bào học), việc phân loại phân tuýp là không bắt buộc, mặc dù có khuyến cáo rằng kiểu phát triển chính quan sát được trên sinh thiết nên được ghi nhận trong chẩn đoán.
Có các hướng dẫn được khuyến cáo để sử dụng danh pháp chuẩn hóa cho chẩn đoán trên các mẫu sinh thiết nhỏ, tính đến cả hình thái học và mức độ biểu hiện của các dấu ấn hóa mô miễn dịch (IHC). Các thuật ngữ được khuyến cáo bao gồm ung thư biểu mô không tế bào nhỏ (NSCC); ưu tiên ung thư biểu mô tuyến (khi hình thái không xác định rõ, nhưng IHC xác nhận nguồn gốc tế bào phế nang); hoặc ung thư biểu mô vảy (hình thái không xác định rõ, nhưng IHC xác nhận nguồn gốc dòng biểu mô vảy); hoặc không đặc hiệu (khi cả hình thái và đặc điểm IHC đều không xác định rõ). Các dấu ấn IHC thường được sử dụng cho dòng tế bào phế nang bao gồm yếu tố phiên mã tuyến giáp 1 (thyroid transcription factor 1 – TTF-1) (được khuyến cáo) và napsin A, trong khi p40 (được khuyến cáo) và p63 được coi là những dấu ấn đặc hiệu nhất cho dòng tế bào vảy. Sự kết hợp giữa dấu ấn TTF-1 và p40/p63 có thể phân loại hơn 90% các trường hợp ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) kém biệt hóa thành nhóm ưu tiên ung thư biểu mô tuyến hoặc ung thư biểu mô vảy trong các mẫu sinh thiết nhỏ. Ngoài các phân tuýp kể trên, các biến thể ung thư biểu mô tuyến ít phổ biến khác bao gồm ung thư biểu mô tuyến tiết nhầy xâm lấn (invasive mucinous adenocarcinoma – IMA) (xem Hình 3.1F), ung thư biểu mô tuyến dạng keo (Hình 3.2A), ung thư biểu mô tuyến dạng ruột (xem Hình 3.2B), và ung thư biểu mô tuyến dạng thai.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ