Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Nội khoa BẢN ĐỌC THỬ

Xét nghiệm Fibrinogen

6 phút đọc

Nhắc lại sinh lý

Fibrinogen là một glycoprotein có TLPT 340.000, được gan tổng hợp và có thời gian bán huỷ là 4-5 ngày.

Fibrinogen tham gia vào:

Phản ứng viêm mà trong phản ứng này có một mối liên quan chặt chẽ giữa nồng độ fibrinogen với tốc độ lắng hồng cầu và nồng độ của protein phản ứng C (CRP). Fibrinogen cũng được coi như một chất phản ứng pha cấp (acute-phase reactant).

Quá trình đông máu: Thrombin kích thích sự hình thành fibrin từ fibrinogen. Fibrin monomer này khi được yếu tố XIII (yếu tố làm ổn định fibrin) tham gia thảm sẽ hình thành một Cục đông fibrin ổn định tại vị trí tổn thương (Hình 1). Trong trường hợp tăng hoạt động tiêu fibrin (tiêu fibản tiên phát hay thử phát), fibrinogen bị thoái giảng bởi plasmin thành các sản phẩm thoái giảng của fibrinogen (PDF) tạo thành các đoạn sớm (X và Y) và các đoạn muộn (D và E)

Trong bệnh lý gan, nồng độ fibrinogen rất thường thấy bị hạ thấp ở bệnh nhân xơ gan mất bù và trong viêm gan nặng (cấp hay mạn tính). Tinh trạng giảm nồng độ fibrinogen này phản ánh mức độ nặng của bệnh lý gan và một nồng độ fibrinogen < 150 mg/dL thường dự báo một tiên lượng xấu.

Định lượng fibrinogen có thể được thực hiện bằng nhiều phương pháp, trong đó các phương pháp kinh điển nhất thường được sử dụng là:

1. Đo hoạt độ sinh học của fibrinogen: Phương pháp của Clauss, đây là kỹ thuật thường được dùng nhất. Cho thỏa thrombin vào plasma của BN và đo thời gian động của plasma này sau khi hoà loãng plasma thành các tỷ lệ được xác định chính xác. Thời gian đông máu được tính ra giấy tỷ lệ với nồng độ fibrinogen và hàm lượng của fibrinogen có thể được tính ra mg/dL., nhờ một đường cong chuẩn. (Hình 2)

2.Đo nồng độ fibrinogen như một protein mang tính kháng nguyên Phương pháp miễn dịch (Vd: phương pháp miễn dịch đo độ đục) đánh giá nồng độ protein, song phương pháp này không cho biết các thông tin về hoạt độ sinh học của fibrinogen. Kỹ thuật hữu [ch này được sử dụng để làm sáng tỏ một tình trạng loạn fibrinogen máu.

Mục đích và chỉ định xét nghiệm

1. Giúp phát hiện một hội chứng viêm.

2. Để thăm dò rối loạn đông máu khi BN có hội chứng chảy máu.

Định lượng nồng độ fibrinogen máu được chỉ định khi các XN đông máu khác (Vd: thời gian prothrombin, thời gian thromboplastin hoạt hóa từng phần, các sản phẩm thoái giáng fibrin và D-dimer) bất thường để phát hiện tình trạng giảm hoặc bất thường fibrinogen.

3. Để theo dõi trong quá trình điều trị tiểu fibrin.

4.Có thể được sử dụng để theo dõi bệnh gan tiến triển.

5.Có thể được sử dụng để đánh giá mức độ nặng và tiến triển của tình trạng đông máu rải rác trong lòng mạch (DIC) khi được tiến hành xét nghiệm theo seri

Cách lấy bệnh phẩm Bệnh phẩm

huyết tương tách từ máu chống đông bằng citrat 3,8% (1 thể tích citrat cho 9 thể tích máu).

Không nhất thiết yêu cầu BN phải nhịn ăn trước khi lấy máu làm xét nghiệm,

Để xét nghiệm chính xác cần tuân thủ:

1.Lấy đủ bệnh phẩm máu vào ống nghiệm để đảm bảo tương quan thể tích máu chất chống động, lấy không đủ máu có thể gây tình trạng thừa chất chống đông với nguy cơ làm sai kết quả XN (1 thế tích chống đông + 9 thể tích máu để bảo đảm 1 thể tích chống đông cho 10 thể tích bệnh phẩm).

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ