Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

[SÁCH DỊCH] Sản phụ khoa Căn bản. Chương 21: Sa sinh dục và các rối loạn đường tiết niệu

61 phút đọc

(SÁCH DỊCH) Sản Phụ khoa Căn bản – Essential Obstetrics and Gynaecology
Tác giả: Ian Symonds & Sabaratnam Arulkumaran – (C) NXB Elsevier
Ths.Bs. Lê Đình Sáng (Dịch và Chú giải)


Chương 21: Sa sinh dục và các rối loạn đường tiết niệu

Prolapse and disorders of the urinary tract
Ajay Rane; Mugdha Kulkarni; Jay Iyer
Essential Obstetrics and Gynaecology, Chapter 21, 352-366


MỤC TIÊU HỌC TẬP

Sau khi học xong chương này, bạn có thể:

Tiêu chí kiến thức

  • Mô tả các cấu trúc nâng đỡ bình thường của tử cung và âm đạo.
  • Mô tả các cơ chế bình thường giúp kiểm soát tiểu tiện và sinh lý của quá trình đi tiểu bình thường.
  • Mô tả dịch tễ học, nguyên nhân và các đặc điểm lâm sàng liên quan đến són tiểu, tiểu nhiều lần, nhiễm trùng đường tiết niệu và sa sinh dục – tiết niệu.
  • Đánh giá các phương pháp điều trị phẫu thuật và không phẫu thuật phổ biến được sử dụng trong quản lý són tiểu và sa sinh dục, bao gồm đặt ống thông, luyện tập bàng quang, bài tập sàn chậu, liệu pháp nội khoa, phẫu thuật phục hồi âm đạo có hoặc không có cắt tử cung, các thủ thuật đặt dải nâng và treo cổ bàng quang.

Năng lực lâm sàng

  • Khai thác bệnh sử từ một phụ nữ có các triệu chứng về ruột, bàng quang và tình dục.
  • Thực hiện khám vùng chậu để đánh giá sa sinh dục – tiết niệu và trương lực sàn chậu.
  • Giải thích các xét nghiệm được sử dụng trong đánh giá són tiểu và sa sinh dục, bao gồm vi sinh, niệu động học, nội soi bàng quang và chẩn đoán hình ảnh.

Kỹ năng và thái độ chuyên nghiệp

  • Xem xét tác động của són tiểu đối với phụ nữ và cộng đồng.

Sa tử cung – âm đạo

Vị trí của âm đạo và tử cung phụ thuộc vào các cấu trúc nâng đỡ dạng mạc và dây chằng khác nhau, được hình thành từ sự dày lên của các vùng mô mạc cụ thể (Hình 21.1–21.4). Đã có một sự thay đổi mô hình trong hiểu biết của chúng ta về giải phẫu các cấu trúc nâng đỡ sàn chậu và cùng với đó là sinh lý bệnh của sự phát triển sa tạng chậu. Ba cấp độ nâng đỡ tạng chậu có liên quan lâm sàng và dễ hiểu về mặt khái niệm. Các dây chằng tử cung-cùng, chịu trách nhiệm nâng đỡ cấp độ I cho phần trên âm đạo và cổ tử cung (và mở rộng ra là tử cung), có một chỗ bám rộng trên các đốt sống cùng thứ hai, ba và tư, xuất phát từ phía sau tại điểm nối của cổ tử cung và phần trên âm đạo, chạy ở mỗi bên ngoài trực tràng hướng về các điểm bám ở xương cùng. Cấu trúc quan trọng khác là cung gân mạc chậu (ATFP; xem Hình 21.3 và 21.5), còn được gọi là đường trắng – một sự cô đặc của mô liên kết vùng chậu trên mặt chậu của cơ bịt trong. ATFP chạy từ gai hông đến củ mu, và đầu trong tận cùng của nó được gọi là dây chằng lược (dây chằng Cooper), một cấu trúc quen thuộc với các bác sĩ phẫu thuật tổng quát thực hiện phẫu thuật thoát vị bẹn và thoát vị đùi. Kéo dài vào trong từ các đường trắng là các tấm mô liên kết vùng chậu cô đặc, treo thành trước và sau âm đạo và các cơ quan nằm dưới chúng, cụ thể là bàng quang và trực tràng, cung cấp sự nâng đỡ cấp độ II. Trước đây, cấu trúc nâng đỡ phía trước cho bàng quang được gọi là mạc mu-bàng quang-cổ tử cung hay các trụ bàng quang, trong khi cấu trúc nâng đỡ phía sau cho trực tràng được gọi là mạc trực tràng-âm đạo.

Sự nâng đỡ cấp độ III được cung cấp bởi thể đáy chậu ở phía sau và các dây chằng mu-niệu đạo ở phía trước. Thể đáy chậu là một khối cơ-xơ phức tạp nơi có nhiều cấu trúc bám vào. Nó được giới hạn ở phía trên bởi vách trực tràng-âm đạo (mạc Dennonviller), phía dưới bởi da tầng sinh môn, phía trước bởi thành của ống hậu môn-trực tràng và hai bên bởi ngành ngồi-mu. Hình dạng ba chiều của nó được ví như hình nón của cây thông đỏ (Pinus resinosa), và nó tạo thành nền tảng của sàn chậu, một cấu trúc cơ-xơ có kích thước 4 cm x 4 cm, không chỉ nâng đỡ cho một phần ba dưới của thành âm đạo (một phần của khe sinh dục) ở phía trước mà còn cho cơ thắt ngoài hậu môn ở phía sau. Bám vào hai bên thể đáy chậu là các cơ đáy chậu nông và sâu.

Thành trước âm đạo được nâng đỡ bởi mạc mu-bàng quang-cổ tử cung, kéo dài từ ATFP bên này sang ATFP bên kia, tạo ra một sự nâng đỡ cấp độ II giống như một chiếc võng. Thành sau âm đạo được nâng đỡ bởi mô xơ của vách trực tràng-âm đạo, chỉ được xác định rõ ở đường giữa; ở hai bên, các cấu trúc nâng đỡ giống như võng xuất phát từ ATFP.

Tử cung được nâng đỡ gián tiếp bởi các cấu trúc nâng đỡ của thành âm đạo nhưng được nâng đỡ trực tiếp bởi các dây chằng tử cung-cùng. Các dây chằng tròn và dây chằng rộng cung cấp sự nâng đỡ yếu, nếu có, cho âm đạo và tử cung. Sự nâng đỡ gián tiếp cho một phần ba dưới của âm đạo và tử cung được cung cấp bởi cơ nâng hậu môn (sàn chậu) nguyên vẹn. Vai trò của cơ nâng hậu môn luôn bị nghi ngờ, nhưng phần cơ mu-trực tràng của cơ nâng hậu môn đóng một vai trò quan trọng trong sự giãn nở của khe sinh dục trong quá trình chuyển dạ và sinh, khiến nó rất dễ bị tổn thương. Tổn thương cơ này được cho là nguyên nhân gây sa âm đạo về sau.

Hình 21.1 Hoành chậu nhìn từ dưới.

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Trang Chủ