Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Ngoại khoa Căn bản: Vấn đề, Chẩn đoán và Quản lý, Ấn bản thứ 7 (2026). Chương 21. LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG VÀ CÁC RỐI LOẠN LIÊN QUAN

52 phút đọc

Ngoại khoa Căn bản: Vấn đề, Chẩn đoán và Quản lý, ấn bản thứ 7 (2026)
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 7th Edition
Biên tập viên chính: Clive R. G. Quick, Suzanne Biers, Tan Arulampalam, Philip J. Deakin
Dịch & Chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng – (C) 2026 Elsevier


CHƯƠNG 21: LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG VÀ CÁC RỐI LOẠN LIÊN QUAN

Peptic ulceration and related disorders
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 21, 353-365


GIỚI THIỆU

Bệnh loét dạ dày tá tràng (Peptic ulcer disease) có thể ảnh hưởng đến thực quản, dạ dày và tá tràng. Những tình trạng này có chung triệu chứng đau vùng thượng vị và căn nguyên phổ biến là tình trạng viêm niêm mạc liên quan đến sự bài tiết acid-pepsin của dạ dày. Yếu tố căn nguyên quan trọng nhất trong bệnh loét dạ dày và tá tràng hiện nay được biết đến là tình trạng nhiễm trùng niêm mạc mạn tính với vi khuẩn Helicobacter pylori (H. pylori). Các rối loạn do loét và bệnh sỏi mật (gallstone disease) là những nguyên nhân phổ biến nhất gây đau bụng trên mạn tính thực thể.

Với các tác nhân dược lý hiệu quả cao để ức chế bài tiết acid (bắt đầu với cimetidine vào năm 1976) và các kỹ thuật chẩn đoán, điều trị và theo dõi đáng tin cậy hơn như nội soi ống mềm (flexible endoscopy), phẫu thuật điều trị bệnh loét dạ dày tá tràng đã giảm hơn 90% ở các quốc gia có thu nhập cao trong 40 năm qua. Các liệu pháp kháng sinh gần đây và các phương pháp điều trị khác cho H. pylori mang lại khả năng chữa khỏi vĩnh viễn cho nhiều rối loạn loét. Hầu hết người bệnh nghi ngờ mắc bệnh loét dạ dày tá tràng được điều trị bởi các bác sĩ gia đình; số còn lại phần lớn được quản lý bởi các bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa (gastroenterologists). Chỉ một thiểu số người bệnh đến gặp bác sĩ ngoại khoa do điều trị nội khoa thất bại hoặc có các biểu hiện cấp cứu như thủng ổ loét. Tỷ lệ các biến chứng cấp cứu như thủng và xuất huyết vẫn tương đối ổn định, nhưng hẹp môn vị (pyloric stenosis) do loét đã giảm đáng kể khi tình trạng loét mạn tính trở nên ít phổ biến hơn. Tuy nhiên, do những khó khăn trong chẩn đoán các triệu chứng vùng bụng trên, các bác sĩ ngoại khoa vẫn gặp và xử trí nhiều người bệnh mà sau đó được xác định là mắc các rối loạn do loét.

SINH LÝ BỆNH VÀ DỊCH TỄ HỌC CỦA CÁC RỐI LOẠN DO LOÉT

Sinh lý bệnh của loét dạ dày tá tràng

Viêm, có thể được khởi phát bởi nhiễm trùng H. pylori và duy trì bởi tác động kết hợp của acid dạ dày và pepsin lên niêm mạc, có lẽ là nguyên nhân của tất cả các rối loạn do loét ở đường tiêu hóa trên ngoại trừ viêm thực quản trào ngược. H. pylori là một vi khuẩn xoắn, gram âm, vi hiếu khí, có khả năng khu trú ở niêm mạc dạ dày trong một thời gian rất dài. Trong nhiều trường hợp, nhiễm trùng dường như đã mắc phải từ thời thơ ấu, thường liên quan đến điều kiện sống kém trong những năm đầu đời. Một sự cân bằng động bình thường được duy trì giữa các đặc tính bảo vệ vốn có của niêm mạc (hàng rào niêm mạc) và tác động kích ứng của dịch tiết acid-pepsin. Sự cân bằng mong manh giữa hai yếu tố này có thể bị phá vỡ do giảm sức đề kháng của niêm mạc hoặc do bài tiết acid-pepsin quá mức, hoặc kết hợp cả hai. Bề mặt niêm mạc có thể bị trợt do tác động trực tiếp của một tác nhân bên ngoài, ví dụ như rượu. Dù căn nguyên là gì, phạm vi của các hậu quả bệnh lý là tương tự nhau và được tóm tắt trong Hình 21.1.

Hậu quả của việc phá vỡ hàng rào niêm mạc

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Trang Chủ