Sổ tay Lâm sàng Tiết niệu Penn, Ấn bản thứ 3
Penn Clinical Manual of Urology Third Edition – (C) 2025 Nhà Xuất Bản ELSEVIER
Biên tập: Thomas J. Guzzo, Robert C. Kovell, Justin B. Ziemba, Dana A. Weiss, Alan J. Wein
Dịch và chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng, Ts.Bs. Lê Huy Ngọc, Ts.Bs. Lê Nhật Huy, BSCKII. Trần Trung Kiên
CHƯƠNG 16. UNG THƯ NIỆU DỤC NGƯỜI LỚN: TIỀN LIỆT TUYẾN VÀ BÀNG QUANG
Adult genitourinary cancer: Prostate and bladder
Ruchika Talwar, MD; David J. Vaughn, MD; Alan J. Wein, MD, PhD (Hon), FACS; Thomas J. Guzzo, MD, MPH
Penn Clinical Manual of Urology, CHAPTER 16, 581-634.e3
UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYẾN
TỔNG QUAN
Ung thư tiền liệt tuyến (Prostate Cancer) là loại ung thư phổ biến nhất ở nam giới và là nguyên nhân gây tử vong do ung thư đứng hàng thứ hai ở phái mạnh. Một trong chín nam giới sẽ được chẩn đoán mắc ung thư tiền liệt tuyến; tuy nhiên, chỉ 1 trong 41 người sẽ tử vong vì căn bệnh này. Việc sàng lọc bằng kháng nguyên đặc hiệu tiền liệt tuyến (Prostate-Specific Antigen – PSA) đã dẫn đến sự chuyển dịch giai đoạn bệnh đáng kể trong vài thập kỷ qua, với hầu hết nam giới hiện nay được phát hiện ở giai đoạn bệnh khu trú tại cơ quan và có nguy cơ thấp.
Sàng lọc PSA đã dẫn đến sự gia tăng phát hiện các ca ung thư tiền liệt tuyến tiến triển chậm (indolent), được minh chứng bởi sự chênh lệch giữa nguy cơ chẩn đoán ung thư tiền liệt tuyến trong suốt cuộc đời so với nguy cơ tử vong do bệnh. Việc phát hiện sớm có khả năng cải thiện kết quả ở một nhóm người bệnh nhất định; tuy nhiên, việc điều trị quá mức (overtreatment) đối với các ung thư tiến triển chậm hiện được công nhận là một hạn chế tiềm tàng của việc sàng lọc. Đối với những người bệnh mắc bệnh khu trú, điều trị triệt căn mang lại kết quả ung thư học xuất sắc. Đối với những người bệnh có ung thư nguy cơ trung bình hoặc cao, khi nguy cơ tái phát bệnh sau điều trị tại chỗ là đáng kể, liệu pháp phối hợp đa mô thức có thể mang lại lợi ích. Bản chất của tái phát sinh hóa (biochemical recurrence) sau điều trị tại chỗ đang được định nghĩa rõ ràng hơn, cho phép phân tầng các nhóm người bệnh này.
Điều trị bệnh giai đoạn tiến triển theo kinh điển thường bao gồm một số hình thức triệt tiêu androgen và hóa trị giảm tế bào; tuy nhiên, những tiến bộ gần đây trong điều trị ung thư tiền liệt tuyến tiến triển tại chỗ và di căn (metastatic prostate cancer) đã định nghĩa lại các phác đồ điều trị của chúng ta trên quần thể người bệnh này, và có khả năng sẽ tiếp tục thay đổi trong tương lai.
TỶ LỆ MẮC BỆNH
Vào năm 2019, ước tính có khoảng 174.650 ca ung thư tiền liệt tuyến mới và khoảng 31.620 ca tử vong liên quan đến ung thư tại Hoa Kỳ. Các chuyên gia dự đoán rằng đến năm 2030, sẽ có 1,7 triệu ca mới và gần 500.000 ca tử vong trên toàn thế giới. Sau sự gia tăng nhanh chóng các ca bệnh được phát hiện sau khi áp dụng xét nghiệm PSA, số lượng ca mắc mới đã giảm xuống mức hiện tại. Tỷ lệ tử vong do ung thư tiền liệt tuyến đã giảm khoảng 25% trong thập kỷ qua, có thể là do sự kết hợp của việc phát hiện sớm, sự dịch chuyển giai đoạn bệnh, việc áp dụng và hiệu quả của các liệu pháp điều trị triệt căn, cũng như sự gia tăng tỷ lệ tử vong do các nguyên nhân thay thế khác.
SÀNG LỌC KHÁNG NGUYÊN ĐẶC HIỆU TIỀN LIỆT TUYẾN (PSA)
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ