Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

PHẪU THUẬT TUYẾN GIÁP VÀ TUYẾN CẬN GIÁP, ẤN BẢN THỨ 3. CHƯƠNG 35. GIẢI PHẪU PHẪU THUẬT VÀ THEO DÕI THẦN KINH THANH QUẢN TRÊN

50 phút đọc

PHẪU THUẬT TUYẾN GIÁP VÀ TUYẾN CẬN GIÁP, ẤN BẢN THỨ 3
Chủ biên: Gregory W. Randolph MD FACS FACE – Nhà xuất bản Elsevier (2022)
Dịch và chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng 
Bản dịch vì mục đích phi lợi nhuận. Xuất bản trực tuyến duy nhất trên các website sachyhoc.com và yhoclamsang.net của THƯ VIỆN MEDIPHARM


CHƯƠNG 35. GIẢI PHẪU PHẪU THUẬT VÀ THEO DÕI THẦN KINH THANH QUẢN TRÊN

Surgical Anatomy and Monitoring of the Superior Laryngeal Nerve
Marcin Barczyński; Claudio R. Cernea; Catherine F. Sinclair
Surgery of the Thyroid and Parathyroid Glands, 35, 316-325


Vui lòng truy cập ebooks.health.elsevier.com để xem video liên quan:

Video 35.1: Giới thiệu Chương 35, Giải phẫu Phẫu thuật và Theo dõi Thần kinh Thanh quản Trên.

Video 35.2: Giải phẫu và Theo dõi Thần kinh Thanh quản Trên.

Video 35.3: Kích thích Nhánh ngoài Thần kinh Thanh quản Trên bên phải trong phẫu thuật cắt tuyến giáp.

Các khía cạnh kỹ thuật của phẫu thuật tuyến giáp đã thay đổi rất ít kể từ các bài báo gốc của Kocher. Thông thường, tỷ lệ biến chứng của phẫu thuật cắt tuyến giáp (Thyroidectomy) là rất thấp khi được thực hiện bởi một phẫu thuật viên giàu kinh nghiệm. Các biến chứng phổ biến nhất bao gồm suy tuyến cận giáp (Hypoparathyroidism) và tổn thương thần kinh thanh quản quặt ngược (RLN – Recurrent Laryngeal Nerve). Tuy nhiên, tổn thương nhánh ngoài của thần kinh thanh quản trên (EBSLN – External Branch of the Superior Laryngeal Nerve) có thể xảy ra trong quá trình phẫu tích và kiểm soát các mạch máu cực trên tuyến giáp. Tổn thương này gây liệt cơ nhẫn giáp (CTM – Cricothyroid Muscle), làm giảm khả năng tạo ra các âm cao (High tones) và thay đổi tần số cơ bản (Fundamental frequency) của giọng nói; điều này đặc biệt gây phiền toái cho những người cần giọng nói vang và các ca sĩ chuyên nghiệp. Hậu quả của liệt EBSLN rất khó phát hiện trong quá trình soi thanh quản hậu phẫu thường quy, nhưng những hậu quả về chức năng có thể là thảm họa đối với những người hành nghề dựa vào giọng nói. Được trang bị kiến thức đầy đủ về các biến thể giải phẫu của vùng cực trên tuyến giáp, và thông qua việc phẫu tích tỉ mỉ cuống mạch cực trên, phẫu thuật viên có thể tránh được tổn thương này. Ngoài ra, chương này sẽ thảo luận ngắn gọn về việc sử dụng nhánh trong của thần kinh thanh quản trên (IBSLN – Internal Branch of the Superior Laryngeal Nerve) để theo dõi liên tục chức năng dây thanh thông qua phản xạ khép thanh quản (LAR – Laryngeal Adductor Reflex).

LỊCH SỬ

Năm 1892, Fort đã báo cáo các đặc điểm giải phẫu của cơ nhẫn giáp (CTM), bao gồm cả nguồn cung cấp vận động của nó bởi EBSLN. Một số ấn phẩm đã nghiên cứu giải phẫu của EBSLN, thường là trong các loạt nghiên cứu trên xác. Báo cáo lớn nhất, của Moosman và DeWeese, bao gồm 200 xác tươi.

Ban đầu, ít sự chú ý được dành cho giải phẫu phẫu thuật của EBSLN trong đầu thế kỷ 20. Trên thực tế, ngay cả Kocher cũng không đề cập cụ thể đến dây thần kinh này trong cuốn sách của mình, cuốn sách từng được coi là nền tảng của phẫu thuật tuyến giáp. Cuốn sách của Kocher có tựa đề “Sổ tay giảng dạy các phẫu thuật ngoại khoa” trong chương “Chỉ định và kết quả trong phẫu thuật bướu giáp” đã ghi lại kinh nghiệm cá nhân của ông với hơn 3000 ca cắt tuyến giáp. Tầm quan trọng của việc bảo tồn EBSLN đã trở nên rõ ràng sau một ca cắt tuyến giáp được thực hiện vào năm 1935. Vào thời điểm đó, Amelita Galli-Curci là nữ ca sĩ giọng soprano nổi tiếng nhất thế giới. Cô đã trải qua phẫu thuật cắt tuyến giáp vì một bướu giáp nặng 170 g. Phẫu thuật viên đã sử dụng gây tê tại chỗ (Local anesthesia) và yêu cầu bệnh nhân nói chuyện trong khi phẫu thuật để đảm bảo rằng các dây thần kinh thanh quản quặt ngược (RLN) không bị tổn thương. Phẫu thuật viên đã xác định và bảo tồn cẩn thận các RLN. Tuy nhiên, âm vực của Galli-Curci đã giảm đáng kể sau phẫu thuật, và giọng của cô trở nên khàn vĩnh viễn. Cô đã phải từ bỏ ca hát; báo chí thời đó viết, “giọng ca đáng kinh ngạc đã biến mất mãi mãi; bóng ma buồn bã đã thay thế cho sự mềm mại như nhung”. Kể từ đó, EBSLN được gọi là “dây thần kinh của Amelita Galli-Curci”. Điều thú vị là, một số tác giả gần đây đã đặt câu hỏi về tính xác thực của sự kiện này.

Năm 1957, Gregg tuyên bố rằng, mặc dù có kinh nghiệm lớn tại đơn vị của mình (8000 ca cắt tuyến giáp), ông không chắc chắn làm thế nào để ngăn ngừa hoặc phát hiện tổn thương EBSLN. Sau đó, một số tác giả đề xuất rằng việc phẫu tích cực trên tuyến giáp nên được thực hiện hết sức cẩn thận để tránh thắt nhầm dây thần kinh khi thắt các mạch máu cực trên.

Một số báo cáo trong y văn đã mô tả các phương pháp để xác định EBSLN trong quá trình cắt tuyến giáp. Một số tác giả chỉ dựa vào hình dáng giải phẫu của dây thần kinh để xác định. Những người khác đã thử một số hình thức kích thích điện (Electrical stimulation) để hỗ trợ xác định, chủ yếu khi xử lý các tuyến giáp phì đại rõ rệt.

GIẢI PHẪU

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Trang Chủ