Hội chứng Cushing – Lịch Sử, Chẩn đoán và Điều trị, ấn bản 2026.
Dịch và chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng
Tác giả: J. Poirier, L. Martel-Duguech, I. Bourdeau và A. Lacroix. (C) 2026 Nhà xuất bản Elsevier. Bảo lưu mọi quyền.
Bản dịch của cuốn sách được xuất bản trực tuyến vì mục đích phi lợi nhuận duy nhất trên các website yhoclamsang.net & sachyhoc.com của Thư viện Medipharm.
CHƯƠNG 16. HỘI CHỨNG CUSHING VÀ CÁC TÁC ĐỘNG LÂU DÀI LÊN SỨC KHỎE, NHẬN THỨC VÀ CHỨC NĂNG
Susan M. Webb 1,2,3,4, Alicia Santos 1,2,3, Anna Aulinas 1,2,3,5 và Elena Valassi 6,7
1 Khoa Nội tiết, Bệnh viện S Pau, Barcelona, Tây Ban Nha; 2 Trung tâm Nghiên cứu Bệnh lý Tuyến yên, Viện Nghiên cứu Sant Pau (IIB-Sant Pau), Barcelona, Tây Ban Nha; 3 Đơn vị CIBERER 747, ISCIII, Majadahonda, Tây Ban Nha; 4 Khoa Y, Đại học Tự trị Barcelona, Barcelona, Tây Ban Nha; 5 Khoa Y, Đại học Vic – Đại học Trung tâm Catalunya, Vic, Tây Ban Nha; 6 Khoa Nội tiết và Dinh dưỡng, Bệnh viện và Viện Nghiên cứu Germans Trias i Pujol, Badalona, Tây Ban Nha; 7 Trường Y, Đại học Quốc tế Catalunya (UIC), Barcelona, Tây Ban Nha.
Giới Thiệu
Mặc dù đã kiểm soát được tình trạng tăng tiết cortisol (hypercortisolism) ở hầu hết bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh Cushing (Cushing disease) bằng các kỹ thuật phẫu thuật thần kinh chính xác, các loại thuốc (thuốc ức chế tổng hợp steroid, thuốc tác động lên tuyến yên để ức chế tiết ACTH, hoặc thuốc chẹn thụ thể cortisol), và trong một số trường hợp là xạ trị, kết cục của bệnh nhân vẫn chưa thực sự tối ưu, vì họ vẫn gặp phải nhiều vấn đề sức khỏe hơn và có cảm nhận về sức khỏe kém hơn so với nhóm chứng tương đồng. Điều tương tự cũng áp dụng cho các nguyên nhân khác gây ra hội chứng Cushing nội sinh (endogenous Cushing syndrome) (do tuyến thượng thận hoặc u tiết lạc chỗ). Quá trình phơi nhiễm mạn tính với tình trạng tăng tiết cortisol là nguyên nhân dẫn đến gia tăng tỷ lệ mắc bệnh lâu dài và chi phí y tế cao hơn, điều này thể hiện rõ ngay cả trước khi có chẩn đoán chính xác (thường bị trì hoãn trong vài năm) và có thể kéo dài lên đến 10 năm sau phẫu thuật.
Nhiều vấn đề về tim mạch, chuyển hóa, cơ xương khớp và tâm thần kinh được ghi nhận sau khi bệnh nhân được chẩn đoán mắc hội chứng Cushing; mặc dù các vấn đề này có cải thiện sau khi kiểm soát được tình trạng tăng tiết cortisol, nhưng chúng thường tồn tại dai dẳng và tác động đến tương lai của những người bệnh. Điều này có thể ảnh hưởng đến các mục tiêu cá nhân, nghề nghiệp và xã hội, đòi hỏi bệnh nhân phải thích nghi với những thách thức mới, chẳng hạn như phải hạ thấp kỳ vọng đối với các hoạt động hàng ngày, năng lực làm việc, chấp nhận nghỉ hưu sớm, hoặc thậm chí giảm sút thu nhập. Ngay cả ở những bệnh nhân có các yếu tố tiên lượng thuận lợi nhất (những người có học vấn cao, làm việc toàn thời gian trước khi chẩn đoán, không có bệnh lý đồng mắc và không có tiền sử trầm cảm), cơ hội làm việc toàn thời gian và có thu nhập cao ở thời điểm 2 năm sau phẫu thuật của họ vẫn thấp hơn so với nhóm chứng khỏe mạnh tương đồng về giới tính và độ tuổi, mặc dù họ đã phải thích nghi với việc sống chung với năng lực kém hơn so với trước đây. Khi sự thích nghi với những hạn chế này không diễn ra theo thời gian, bệnh nhân thường rơi vào trạng thái trầm cảm, lo âu nhiều hơn, gặp các vấn đề về tâm lý, cảm xúc, đồng thời cảm thấy bất lực và hoang mang.
Tác Động Thể Chất Lâu Dài Lên Sức Khỏe Ở Hội Chứng Cushing Đã Được Điều Trị
Tỷ lệ mắc bệnh và tử vong đa hệ thống (multisystem morbidity and mortality) gia tăng ở các bệnh nhân mắc hội chứng Cushing, đặc biệt là vào khoảng thời gian mới được chẩn đoán nhưng vẫn tiếp tục xuất hiện sau khi tình trạng tăng tiết cortisol đã lui bệnh. Các bệnh lý đồng mắc mạn tính (chronic comorbidities) này bao gồm tăng huyết áp (hypertension), đái tháo đường (diabetes), tăng cân và béo phì trung tâm (central obesity), loãng xương (osteoporosis), gãy xương (fractures), và bệnh lý cơ (myopathy), cũng như tình trạng suy kiệt tâm thần kinh (neuropsychological distress). Hơn nữa, các biến chứng cấp tính và những hậu quả tiềm tàng của chúng, chẳng hạn như tỷ lệ nhiễm trùng cao hơn và huyết khối tĩnh mạch (venous thromboembolism) liên quan đến tình trạng tăng đông máu (hypercoagulability), cũng phổ biến hơn. Nhận thức về những vấn đề lâm sàng này còn tương đối mới, và vì hội chứng Cushing là một căn bệnh hiếm gặp, các phác đồ được tối ưu hóa cũng như các nghiên cứu tiến cứu để chứng minh sự cải thiện sau điều trị vẫn còn thiếu. Tuy nhiên, tương tự như trong các bệnh lý mạn tính phổ biến khác như đái tháo đường, tăng huyết áp hoặc loãng xương, theo trực giác lâm sàng, người thầy thuốc nên chủ động tìm kiếm tiến cứu và điều trị hầu hết các bệnh lý đồng mắc này.
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ