U Tân sinh Đường mật, ấn bản 2026 (Biliary Tract Neoplasms, First Edition) – (C) 2026 Nhà xuất bản Elsevier.
Chủ biên: GS.TS.BS. Timothy M. Pawlik, GS.TS.BS.Shishir K. Maithel
Biên dịch: Ths.Bs. Lê Đình Sáng, Ths.Bs. Nguyễn Viết Bình, Ts.BS. Nguyễn Văn Đăng, TS.BS. Nguyễn Huy Toàn, TS.BS. Nguyễn Văn Thuỷ, Ts.BS. Nguyễn Hải Hoàng, BSCKII. Trần Huy Kính, Ths.Bs. Nguyễn Ngọc Tuấn Anh

U TÂN SINH ĐƯỜNG MẬT (Biliary Tract Neoplasms)
CHƯƠNG 12. CÁC LIỆU PHÁP HƯỚNG GAN TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ ĐƯỜNG MẬT
Sarah B. White và James Moroney
Khoa Điện quang Can thiệp, Trường Đại học Y khoa Wisconsin, Milwaukee, WI, Hoa Kỳ
12.1. Giới Thiệu
Tiên lượng đối với người bệnh mắc ung thư biểu mô đường mật trong gan (intrahepatic cholangiocarcinoma – ICC) thường rất kém, một phần do bệnh thường được phát hiện ở giai đoạn muộn và tỷ lệ tái phát tại chỗ rất cao sau phẫu thuật cắt bỏ. Lựa chọn điều trị bước một đối với ung thư biểu mô đường mật trong gan là phẫu thuật cắt bỏ triệt căn khi có chỉ định và khả năng thực hiện. Ở những người bệnh có khối u tái phát hoặc ung thư nguyên phát không thể cắt bỏ, hóa trị liệu toàn thân (systemic chemotherapy) được xem là phương pháp điều trị bước một. Tuy nhiên, các lựa chọn điều trị toàn thân cho căn bệnh này còn hạn chế và gây ra những độc tính đáng kể, do đó tiên lượng nhìn chung vẫn rất dè dặt. Các liệu pháp điều trị hướng gan qua da (percutaneous liver-directed therapies), bao gồm các phương pháp phá hủy khối u (ablation) và các liệu pháp can thiệp nội động mạch (intra-arterial therapies), có khả năng điều trị ung thư biểu mô đường mật trong gan không thể phẫu thuật với ít biến cố bất lợi và độc tính hơn, đồng thời mang lại tiềm năng kéo dài thời gian sống thêm. Vì vậy, các nghiên cứu hiện nay đang tập trung vào việc ứng dụng các liệu pháp hướng gan đơn thuần hoặc kết hợp với điều trị toàn thân nhằm cải thiện kết cục sống còn ở nhóm người bệnh này. Nội dung thảo luận dưới đây sẽ tập trung vào những nghiên cứu mới nhất liên quan đến việc ứng dụng các liệu pháp hướng gan trong điều trị ung thư biểu mô đường mật trong gan.
12.2. Phá Hủy Khối U (Ablation)
Liệu pháp phá hủy khối u gan tại chỗ – khu vực qua da bao gồm các chiến lược sử dụng nhiệt và không sử dụng nhiệt. Đốt sóng cao tần (radiofrequency ablation – RFA), đốt vi sóng (microwave ablation – MWA) và đốt áp lạnh (cryoablation) là các phương thức phá hủy bằng nhiệt, trong khi điện di không thuận nghịch (irreversible electroporation – IRE) và tán mô bằng siêu âm (histotripsy) thuộc nhóm không sinh nhiệt. Tán mô bằng siêu âm là một công cụ không xâm lấn, trong khi các phương pháp còn lại đều yêu cầu đưa các kim dò qua da đâm trực tiếp vào tổn thương gan đích. Tất cả các phương pháp này đều nhằm mục đích khu trú sự phá hủy tế bào khối u với một ranh giới an toàn phù hợp, đồng thời hạn chế tối đa tổn thương cho nhu mô gan lành lân cận không chứa tế bào ung thư. Mặc dù khác biệt về cơ chế tác động, các phương thức này tựu trung lại đều dẫn đến sự tiêu diệt tế bào khối u. Điều trị phá hủy khối u gan thường được chỉ định phổ biến nhất đối với ung thư biểu mô tế bào gan (hepatocellular carcinoma – HCC), vì đây là loại u tân sinh nguyên phát tại gan thường gặp nhất. Tuy nhiên, một số nghiên cứu đã đánh giá hiệu quả của phương pháp này trên những người bệnh mắc ung thư biểu mô đường mật trong gan không thể phẫu thuật cắt bỏ. Một phân tích gộp về các liệu pháp hướng gan đánh giá 93 nghiên cứu trên 3990 người bệnh mắc căn bệnh này đã nhận thấy rằng, phá hủy khối u là phương thức điều trị duy nhất cho thấy kết quả nhất quán đủ để đưa ra khuyến cáo thực hành ở những người bệnh có khối u không thể cắt bỏ. Các tác giả nhận thấy rằng khi phương pháp phá hủy khối u được lồng ghép vào phác đồ điều trị, người bệnh có thời gian sống thêm toàn bộ (overall survival – OS) được kéo dài, trong khi các liệu pháp hướng gan khác, chẳng hạn như nút hóa chất động mạch (transarterial chemoembolization – TACE) hoặc xạ trị trong qua đường động mạch (transarterial radioembolization – TARE), lại cho kết quả không đồng nhất và chưa chứng minh được sự vượt trội rõ ràng so với hóa trị liệu toàn thân. Đối với liệu pháp phá hủy khối u, tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn lên tới 93,9% và thời gian sống thêm toàn bộ trung bình gia quyền gộp là 30,2 tháng (Khoảng tin cậy 95%: 21,8 – 38,6). Đáng tiếc là phân tích gộp này không phân tầng kết quả giữa các phương thức phá hủy khối u khác nhau, do đó vẫn chưa rõ kỹ thuật cụ thể nào mang lại lợi ích sinh tồn tốt nhất cho người bệnh. Hiện tại, chưa có thử nghiệm lâm sàng tiến cứu nào so sánh kỹ thuật phá hủy khối u với phẫu thuật cắt bỏ ở nhóm người bệnh này.
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ