Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

U Tân sinh Đường mật, ấn bản 2026. CHƯƠNG 11. XẠ TRỊ CHO CÁC UNG THƯ ĐƯỜNG MẬT

35 phút đọc

U Tân sinh Đường mật, ấn bản 2026 (Biliary Tract Neoplasms, First Edition) – (C) 2026 Nhà xuất bản Elsevier.
Chủ biên: GS.TS.BS. Timothy M. Pawlik, GS.TS.BS.Shishir K. Maithel
Biên dịch: Ths.Bs. Lê Đình Sáng, Ths.Bs. Nguyễn Viết Bình, Ts.BS. Nguyễn Văn Đăng, TS.BS. Nguyễn Huy Toàn, TS.BS. Nguyễn Văn Thuỷ, Ts.BS. Nguyễn Hải Hoàng, BSCKII. Trần Huy Kính, Ths.Bs. Nguyễn Ngọc Tuấn Anh


U TÂN SINH ĐƯỜNG MẬT (Biliary Tract Neoplasms)


CHƯƠNG 11. XẠ TRỊ CHO CÁC UNG THƯ ĐƯỜNG MẬT

Maneesh Parmeswaran, Safa Kaseb và Eugene J. Koay

Khoa Ung thư Xạ trị Tiêu hóa, Trung tâm Ung thư MD Anderson; Đại học Texas, Houston, TX, Hoa Kỳ


11.1 GIỚI THIỆU

Các ung thư đường mật (biliary tract cancers – BTCs) bao gồm một nhóm bệnh lý không đồng nhất với các biểu hiện, đặc điểm sinh học và phương pháp quản lý lâm sàng khác nhau. Ung thư túi mật (gallbladder cancer – GBC), ung thư biểu mô đường mật trong gan (intrahepatic cholangiocarcinoma – iCCA), và ung thư biểu mô đường mật ngoài gan (extrahepatic cholangiocarcinoma – eCCA) là những bệnh lý thường được gộp chung dưới tên gọi các ung thư đường mật. Ung thư túi mật xuất hiện bên trong túi mật và thường là một phát hiện tình cờ trong quá trình phẫu thuật cắt túi mật (cholecystectomy), hoặc có biểu hiện bệnh ở giai đoạn tiến xa với đặc điểm sinh học thường rất hung hãn. Tùy thuộc vào nguồn gốc của khối ung thư biểu mô đường mật (cholangiocarcinoma) nằm bên trong các ống mật trong gan hay liên quan đến các ống mật bên ngoài gan, những khối u này có thể được phân loại là trong gan hoặc ngoài gan.

Những người bệnh mắc ung thư biểu mô đường mật trong gan hoặc ngoài gan đều đặt ra những thách thức đặc biệt đối với việc điều trị, bao gồm nhưng không giới hạn ở đặc điểm sinh học hung hãn của bệnh, biểu hiện ở giai đoạn tiến xa và các biến chứng ở đường mật cản trở việc điều trị ung thư cho đến khi chúng được giải quyết bằng các ống dẫn lưu hoặc đặt stent. Đối với ung thư biểu mô đường mật ngoài gan, vị trí vùng rốn gan (perihilar) và đoạn xa (distal) là hai thể loại khác nhau cần được phân biệt rõ ràng, do vai trò khác biệt của các liệu pháp điều trị tiền phẫu và bổ trợ. Ở tất cả các người bệnh mắc ung thư đường mật giai đoạn sớm, việc kiểm soát tại chỗ (local control – LC) và khả năng chữa khỏi chỉ có thể đạt được thông qua phẫu thuật. Tuy nhiên, đối với các ung thư đường mật ở giai đoạn tiến xa, phẫu thuật không còn là một lựa chọn do không thể cắt bỏ khối u một cách an toàn và/hoặc bệnh đã di căn ra ngoài gan, thường khiến tình trạng trở nên không thể chữa khỏi.

Đáng chú ý, nguyên nhân gây tử vong phổ biến nhất ở hơn 80% người bệnh mắc ung thư biểu mô đường mật giai đoạn tiến xa là tình trạng suy gan do khối u (tumor-related liver failure – TRLF), vì bệnh lý thống trị tại gan dẫn đến các biến chứng gây tử vong ở hệ thống mạch máu gan và/hoặc đường mật. Tình trạng suy gan cũng rất phổ biến ở những người bệnh mắc ung thư túi mật. Trong phần này, chúng tôi sẽ xem xét một khối lượng bằng chứng ngày càng tăng về việc sử dụng xạ trị liều thông thường và liều leo thang đối với ung thư túi mật, ung thư biểu mô đường mật trong gan và ngoài gan. Thật vậy, ở những ung thư đường mật không thể cắt bỏ, khi việc leo thang liều xạ trị có thể đạt được sự kiểm soát tại chỗ an toàn đối với các bệnh lý thống trị tại gan, các dữ liệu hồi cứu ngày càng nhiều và dữ liệu tiến cứu mới nổi cho thấy xạ trị có thể giúp kéo dài sự sống cho người bệnh bằng cách giảm thiểu nguy cơ suy gan do khối u.

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Trang Chủ