Sinh lý học Hô hấp ứng dụng của Nunn & Lumb, ấn bản thứ 9. Nunn and Lumb’s Applied Respiratory Physiology 9th Edition.
Chủ biên: Andrew Lumb, Caroline Thomas. Nhà xuất bản ELSEVIER. Biên dịch: Ts.Bs. Lê Nhật Huy, Ths.Bs. Lê Đình Sáng. ISBN-13: 978-0702079085.
Ấn bản tiếng Việt của cuốn sách này được dịch & chia sẻ vì mục đích lan toả tri thức, hoàn toàn phi lợi nhuận, duy nhất trên các website sachyhoc.com & yhoclamsang.net của THƯ VIỆN MEDIPHARM. NGHIÊM CẤM THƯƠNG MẠI HOÁ bản dịch tiếng Việt của cuốn sách này dưới bất cứ hình thức nào.
CHƯƠNG 28. BỆNH LÝ ĐƯỜNG THỞ
Airways disease
Andrew Lumb, MB BS FRCA; Caroline Thomas, BSc MBChB MRCS(Ed) FRCA
Nunn and Lumb’s Applied Respiratory Physiology, 28, 324-338.e3
|
ĐIỂM NHẤN MẠNH LÂM SÀNG |
|---|
| Dù nguyên nhân là gì, sự hẹp đường thở đều dẫn đến hạn chế luồng khí thở ra, ứ khí và căng phồng phổi quá mức, biểu hiện trên lâm sàng bằng triệu chứng khó thở. |
| Hen phế quản (Asthma) là tình trạng tắc nghẽn đường thở có thể đảo ngược, từng đợt, gây ra bởi tình trạng viêm đường thở và co thắt cơ trơn phế quản, cả hai đều là kết quả của các chất trung gian giải phóng từ tế bào mast và bạch cầu ái toan. |
| Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) tiến triển dần, với sự hẹp đường thở khó hồi phục do viêm đường thở và mất độ đàn hồi của mô phổi, phần lớn là hậu quả của sự kích hoạt bạch cầu đa nhân trung tính ở đường thở do hút thuốc. |
| Bệnh xơ nang (Cystic fibrosis) là một bệnh di truyền trong đó sự vận chuyển ion chloride bất thường ở đường thở làm suy yếu các cơ chế bảo vệ bình thường của phổi, dẫn đến nhiễm trùng phổi mạn tính và phá hủy cấu trúc phổi. |
Chương này xem xét những thay đổi sinh lý học diễn ra ở ba bệnh lý phổ biến nhất của đường thở: hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) và xơ nang (CF). Hai bệnh đầu tiên có nhiều đặc điểm lâm sàng và sinh lý học chung, và cùng nhau tạo thành phần lớn các bệnh lý hô hấp thường gặp trong thực hành lâm sàng.
Hen phế quản
Ước tính có khoảng 4,3% người mắc hen phế quản trên toàn thế giới, với tỷ lệ hiện mắc tăng khoảng 50% mỗi thập kỷ. Ở các nước công nghiệp phát triển, xu hướng gia tăng tỷ lệ hiện mắc này hiện được cho là đã ổn định ở mức 10% đến 15% dân số, và có thể đang giảm ở một số quốc gia. Trong khi đó, tỷ lệ hiện mắc hen phế quản lại tăng nhanh ở các nước đang phát triển khi lối sống thay đổi. Tỷ lệ hiện mắc hen phế quản ở trẻ em tại các nước phát triển đã tăng gấp hai đến ba lần trong 50 năm qua. Mặc dù tỷ lệ hiện mắc trên toàn thế giới không còn tăng nữa, số ca nhập viện do hen phế quản vẫn tiếp tục gia tăng. May mắn thay, các phương pháp điều trị được cải thiện đã giúp giảm đáng kể số ca tử vong do hen phế quản kể từ những năm 1980, nhưng số năm tuổi thọ bị mất đi do căn bệnh này vẫn cao hơn đáng kể ở các quốc gia có chỉ số phát triển kinh tế xã hội thấp.
Đặc điểm lâm sàng
Hen phế quản gây ra các đợt tái phát cảm giác ‘tức’ ngực, khò khè, khó thở và ho. Tình trạng này là hậu quả của sự hẹp đường thở, xuất phát từ sự kết hợp của tình trạng viêm ở các đường thở nhỏ và sự co thắt cơ trơn phế quản ở đường hô hấp dưới. Một cơn hen cấp tính trải qua ba giai đoạn liên quan chặt chẽ với nhau.
Co thắt phế quản (Bronchoconstriction) xảy ra sớm trong một ‘cơn’ hen. Đặc điểm này đặc biệt nổi bật ở hen dị ứng, khi đó, triệu chứng khò khè xuất hiện chỉ vài phút sau khi bệnh nhân tiếp xúc với chất gây dị ứng. Các đường thở nhỏ hẹp lại do sự co thắt của cơ trơn đường thở (ASM) để đáp ứng với các cơ chế tế bào được mô tả trong phần tiếp theo.
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ