Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Cẩm nang Chăm sóc tích cực của OH, ấn bản thứ 9, 2026. CHƯƠNG 38. THEO DÕI HÔ HẤP

121 phút đọc

Cẩm nang Chăm sóc tích cực của OH, ấn bản thứ 9, 2026. Chủ biên: Jonathan M. Handy, Bala Venkatesh. (C) 2026 NXB ELSEVIER.
Dịch và chú giải: BS LÊ ĐÌNH SÁNG. Cuốn sách này được dịch và xuất bản trực tuyến vì mục đích học thuật, phi lợi nhuận, duy nhất trên các nền tảng yhoclamsang.net & sachyhoc.com của THƯ VIỆN MEDIPHARM. Bản quyền thuộc về Nhà xuất bản ELSEVIER và các tác giả.


CHƯƠNG 38. THEO DÕI HÔ HẤP

Respiratory monitoring
Andrew Bersten; Thomas J. Morgan
Oh’s Intensive Care Manual, 38, 455-472


Bệnh sử và thăm khám hô hấp đóng vai trò đặc biệt quan trọng ở những người bệnh nguy kịch. Bác sĩ cần chú ý đến nhịp thở (f) – dấu hiệu sinh tồn thường bị bỏ sót nhiều nhất, đánh giá số lượng và tính chất của đờm, cũng như các dấu hiệu cho thấy có sự thay đổi áp lực khoang màng phổi hay nỗ lực hít vào và/hoặc thở ra quá mức. Các biểu hiện này bao gồm việc sử dụng cơ hô hấp phụ, co kéo khí quản, lõm hố thượng đòn và khoảng gian sườn, di động bụng nghịch thường (gợi ý tình trạng mỏi cơ hoành), và mạch nghịch thường (pulsus paradoxus). Trong quá trình tự thở, tình trạng huyết áp sụt giảm quá mức trong thì hít vào (>10 mm Hg, ~1,33 kPa) thường xuất hiện trong các bệnh lý có cung lượng tim thấp như chèn ép tim cấp, sốc tim, thuyên tắc phổi, sốc giảm thể tích và trong cả suy hô hấp cấp. Sự sụt giảm áp lực khoang màng phổi trong thì hít vào tự nhiên có mối tương quan đường cong so với sự sụt giảm huyết áp. Tuy nhiên, do có sự biến thiên đáng kể giữa các cá thể, mạch nghịch thường mang lại giá trị cao nhất khi dùng để theo dõi xu hướng. Sự thuyên giảm mức độ nghịch thường có thể phản ánh sự cải thiện lâm sàng khi người bệnh cần ít áp lực âm khoang màng phổi hơn để thông khí, hoặc ngược lại, có thể phản ánh tình trạng suy kiệt cơ hô hấp khiến người bệnh không còn khả năng tạo ra cùng một mức áp lực âm khoang màng phổi như trước.

Bác sĩ có thể thu thập thêm nhiều thông tin giá trị thông qua dữ liệu về trao đổi khí và cơ học hô hấp. Chương này sẽ tập trung vào các xét nghiệm chức năng hô hấp có liên quan trực tiếp đến người bệnh nguy kịch.

TRAO ĐỔI KHÍ (GAS EXCHANGE)

OXY (OXYGEN)

Dữ liệu được lấy mẫu tại các điểm dọc theo dòng thác oxy, từ khí hít vào cho đến các bào quan nội bào.

KHÍ HÍT VÀO (INSPIRED GAS)

Bác sĩ có thể điều chỉnh phân áp oxy khí hít vào (PiO₂) nhằm giảm thiểu tình trạng giảm oxy máu và ngăn ngừa ngộ độc oxy. PiO₂ của khí đã được làm ẩm là tích số của phân suất oxy khí hít vào (FiO₂) và áp suất khí quyển (barometric pressure – BP) trừ đi áp suất hơi nước bão hòa (saturated vapour pressure – SVP) (47 mm Hg, ~6,27 kPa ở 37°C).

PiO₂ (mm Hg) = FiO₂ × (BP – SVP) (38.1)

Các thông số cần theo dõi bao gồm:

  • Áp lực đầu vào của máy thở và nguồn cung cấp khí.
  • Nồng độ oxy (sử dụng máy phân tích thuận từ – paramagnetic analysers) trong module hít vào và hệ thống dây thở.

SỰ VẬN CHUYỂN KHÍ HÍT VÀO TỚI PHẾ NANG (TRANSFER OF INSPIRED GAS TO ALVEOLI)

Các dấu hiệu cho thấy có sự thông thương mở giữa hệ thống cung cấp oxy và phế nang:

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Trang Chủ