Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

CÁC NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA Y HỌC GIẤC NGỦ, ẤN BẢN THỨ 2 (2026). CHƯƠNG 20. Hậu quả Lâm sàng của Ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn và Lợi ích của việc Điều trị

181 phút đọc

CÁC NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA Y HỌC GIẤC NGỦ, ẤN BẢN THỨ 2 (2026)
(Fundamentals of Sleep Medicine, 2nd Edition)
Tác giả: Richard B. Berry, Mary H. Wagner và Scott M. Ryals. Dịch & chú giải: BS. LÊ ĐÌNH SÁNG.
Bản dịch được chia sẻ vì mục đích lan toả tri thức, hoàn toàn phi lợi nhuận. Nghiêm cấm thương mại hoá bản dịch này dưới bất kỳ hình thức nào.


CHƯƠNG 20. HẬU QUẢ LÂM SÀNG CỦA NGƯNG THỞ KHI NGỦ DO TẮC NGHẼN VÀ LỢI ÍCH CỦA VIỆC ĐIỀU TRỊ

Clinical consequences of obstructive sleep apnea and benefits of treatment
Richard B. Berry, MD, FAASM; Mary H. Wagner, MD, FAASM; Scott M. Ryals, MD, FAASM

Fundamentals of Sleep Medicine, Chapter 20, 370-401


GIỚI THIỆU

Chương này đánh giá các hậu quả của hội chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (obstructive sleep apnea – OSA) chưa được điều trị ở người lớn và những lợi ích của việc điều trị. Những hậu quả nổi bật của OSA được liệt kê trong Bảng 20-1.

Nhiều nghiên cứu được thảo luận trong chương này là các cuộc điều tra cắt ngang dựa trên quần thể dân số, nhằm tìm kiếm mối liên hệ giữa tỷ lệ hiện mắc (prevalence) của các bệnh lý (số lượng bệnh trong một quần thể) tại một thời điểm nhất định với mức độ nghiêm trọng/sự hiện diện của OSA (các mức độ khác nhau của chỉ số ngưng thở – giảm thở (apnea-hypopnea index – AHI)). Các nghiên cứu khác theo dõi một quần thể trong một khoảng thời gian và xác định số lượng ca mắc mới (tỷ lệ mới mắc (incidence) của một căn bệnh nhất định). Những nghiên cứu này xác định rủi ro phát triển các hậu quả ở nhiều mức độ AHI khác nhau. Kết quả của các nghiên cứu dựa trên quần thể có thể thay đổi tùy thuộc vào nhóm được đánh giá (độ tuổi, tỷ lệ nam và nữ). Cũng cần lưu ý rằng các cuộc khảo sát dựa trên phòng khám so với dựa trên quần thể có thể tìm thấy những mối liên quan hoặc lợi ích điều trị khác nhau. Ở một khía cạnh khác, người ta có thể đặt câu hỏi: những bệnh nhân mắc một rối loạn tim mạch (cardiovascular – CV) nhất định có tần suất mắc OSA là bao nhiêu? Kết quả sẽ phụ thuộc vào mốc AHI được sử dụng để xác định sự hiện diện của OSA. Tuy nhiên, Hình 20-1 cho thấy các ước tính đối với những rối loạn tim mạch phổ biến.

Khi xem xét tác động của phương pháp điều trị bằng áp lực đường thở dương liên tục (continuous positive airway pressure – CPAP) đối với các hậu quả của OSA chưa được điều trị, điều quan trọng là phải hiểu rằng các nghiên cứu quan sát thường ít có sức thuyết phục hơn so với các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trials – RCTs). Luôn có mối quan ngại rằng những bệnh nhân tuân thủ điều trị CPAP bằng cách nào đó cũng tuân thủ tốt hơn các liệu pháp y tế khác; do đó, họ có nhiều khả năng đạt được kết quả lâm sàng tốt hơn. Một nghiên cứu của Platt và cộng sự phát hiện ra rằng người sử dụng CPAP tuân thủ tốt hơn việc dùng thuốc hạ lipid máu. Tuy nhiên, một nghiên cứu khác của Villar và cộng sự lại nhận thấy những người tham gia tuân thủ hoặc không tuân thủ CPAP không có sự khác biệt về mức độ tuân thủ dùng thuốc của họ. Cả hai nghiên cứu đều dựa trên các đơn thuốc đã được mua hoặc báo cáo của bệnh nhân, vì vậy việc sử dụng thuốc thực tế có thể khác nhau.

Có một số cân nhắc về mặt đạo đức và thực nghiệm khiến việc thiết kế một nghiên cứu nhằm chứng minh lợi ích của điều trị CPAP đối với các kết cục tim mạch trở nên rất khó khăn. Với sự hiểu biết rộng rãi về CPAP, thật khó để thiết kế một nghiên cứu có khả năng làm mù (blinding) hiệu quả và một phương pháp điều trị đối chứng thỏa đáng (ví dụ: CPAP dưới mức điều trị). Hai vấn đề quan trọng khác cần xem xét khi đánh giá kết quả của các thử nghiệm RCT về điều trị CPAP là: (1) nhiều RCT đã loại trừ những bệnh nhân OSA buồn ngủ nhất, và một số nghiên cứu chỉ ra rằng nhóm này có thể có nguy cơ mắc các rối loạn tim mạch cao hơn cũng như nhận được nhiều lợi ích tiềm năng nhất từ CPAP, và (2) mức độ tuân thủ CPAP thấp (3-4 giờ mỗi đêm). Một số RCT đã tuyển chọn những bệnh nhân không đến khám tại các phòng khám giấc ngủ với các triệu chứng rõ ràng và có thể không đại diện cho quần thể bệnh nhân thường gặp tại các phòng khám này. Phân tích dọc trong một thuần tập dựa trên cộng đồng (Nghiên cứu Thuần tập Giấc ngủ Wisconsin) đã tiết lộ mối liên quan đáng kể giữa các phân loại AHI trong giấc ngủ chuyển động mắt nhanh (rapid eye movement – REM) và sự tiến triển của bệnh tăng huyết áp (hypertension – HTN), trong khi AHI trong giấc ngủ không chuyển động mắt nhanh (non-rapid eye movement – NREM) không phải là yếu tố dự đoán đáng kể cho sự phát triển của tăng huyết áp. Phân tích từ quần thể Nghiên cứu Sức khỏe Giấc ngủ – Tim mạch (Sleep Heart Health Study – SHHS) cho thấy OSA mức độ nặng xảy ra chủ yếu trong giấc ngủ REM có liên quan đến tỷ lệ mắc mới cao hơn của một tiêu chí gộp về biến cố tim mạch, nhưng chỉ xảy ra ở những người đã có bệnh tim mạch (cardiovascular disease – CVD) từ trước. Do đó, việc không sử dụng máy áp lực đường thở dương (positive airway pressure – PAP) suốt cả đêm sẽ không điều trị được OSA trong giấc ngủ REM, vì phần lớn giai đoạn giấc ngủ này xảy ra ở nửa sau của đêm. Vì vậy, thời gian sử dụng CPAP trung bình từ 3 đến 4 giờ có thể không đủ để mang lại lợi ích về tim mạch.

SINH LÝ BỆNH HỌC CỦA CÁC TÁC ĐỘNG BẤT LỢI TỪ OSA

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Trang Chủ