Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Cẩm nang Chăm sóc tích cực của OH, ấn bản thứ 9, 2026. CHƯƠNG 109. PHẢN VỆ

59 phút đọc

Cẩm nang Chăm sóc tích cực của OH, ấn bản thứ 9, 2026. Chủ biên: Jonathan M. Handy, Bala Venkatesh. (C) 2026 NXB ELSEVIER.
Dịch và chú giải: THS.BS LÊ ĐÌNH SÁNG. Cuốn sách này được dịch và xuất bản trực tuyến vì mục đích học thuật, phi lợi nhuận, duy nhất trên các nền tảng yhoclamsang.net & sachyhoc.com của THƯ VIỆN MEDIPHARM. Bản quyền thuộc về Nhà xuất bản ELSEVIER và các tác giả.


CHƯƠNG 109. PHẢN VỆ

Anaphylaxis
Peter Rostron Platt; Paul Harold Martin Sadleir

Oh’s Intensive Care Manual, 109, 1217-1227


ĐỊNH NGHĨA VÀ TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN

Phản vệ (anaphylaxis) là một rối loạn đa hệ thống cấp tính với biểu hiện lâm sàng đa dạng. Tình trạng này là hậu quả của sự giải phóng hàng loạt các chất trung gian từ tế bào mast (mast cells) và, ở mức độ ít được xác định rõ hơn, từ bạch cầu ái kiềm (basophils), bạch cầu đa nhân trung tính (neutrophils) và tiểu cầu (platelets). Kể từ khi Charles Richet (người đạt Giải Nobel Y học năm 1913) mô tả lần đầu và đặt ra thuật ngữ “phản vệ” (anaphylaxis), và sau đó là sự kiện khám phá ra một loại kháng thể mới – IgE (immunoglobulin E) vào năm 1968, thuật ngữ phản vệ nhìn chung được sử dụng chuyên biệt để chỉ một phản ứng quá mẫn (hypersensitivity reaction) cấp tính đối với một chất lạ qua trung gian IgE. Khi giới y khoa công nhận rằng tế bào mast có thể bị kích hoạt để giải phóng các chất trung gian thông qua nhiều cơ chế khác nhau tạo ra một hội chứng sinh lý bệnh y hệt, thuật ngữ chung “giả phản vệ” (anaphylactoid) đã được đưa ra để phân biệt các phản ứng này với các phản ứng qua trung gian IgE.

Dựa trên các hướng dẫn về phản vệ do các tổ chức dị ứng/miễn dịch lớn công bố vào năm 2010, Hiệp hội Dị ứng Thế giới (World Allergy Organisation – WAO) đã thống nhất các hướng dẫn này. Điểm quan trọng là các chuyên gia đã nhất trí chẩn đoán phản vệ nên dựa trên các triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng do Sampson và cộng sự định nghĩa vào năm 2006 (Bảng 109.1). Những tiêu chuẩn lâm sàng này có thể chỉ giới hạn ở các dấu hiệu ở bệnh nhân đang được an thần hoặc gây mê trong môi trường chăm sóc tích cực (critical care); lúc này, tình trạng tụt huyết áp (hypotension) gần như không đáp ứng với các thuốc vận mạch (vasopressors) có thể là dấu hiệu cảnh báo duy nhất của phản vệ.

Tổ chức WAO đã khuyến nghị từ bỏ các thuật ngữ “giả phản vệ” và “giả dị ứng” (pseudo-allergy) để mô tả các phản ứng không qua trung gian IgE. Họ định nghĩa lại phản vệ là ‘một phản ứng quá mẫn toàn thân hoặc hệ thống nghiêm trọng, đe dọa tính mạng’, có thể qua trung gian miễn dịch (immune-mediated) (có IgE hoặc không có IgE) hoặc không qua trung gian miễn dịch, mặc dù định nghĩa này chưa nhận được sự đồng thuận tuyệt đối. Các cơ chế sinh lý bệnh của phản vệ sẽ được thảo luận chi tiết dưới đây, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vào cơ chế miễn dịch phụ thuộc IgE phổ biến nhất. Các cơ chế miễn dịch không qua trung gian IgE, bao gồm quá trình hoạt hóa bổ thể (complement activation) và kích hoạt hệ thống tiếp xúc kallikrein-kinin (kallikrein-kinin contact system), sẽ được thảo luận chi tiết trong phần trình bày về các tác nhân tiêu biểu. Các cơ chế không qua trung gian miễn dịch bao gồm sự kích hoạt trực tiếp thụ thể kết cặp protein G liên quan đến Mas thành viên X2 (Mas-related G-protein coupled receptor member X2 – MRGPRX2) mới được xác định gần đây – thụ thể chịu trách nhiệm cho việc giải phóng histamine do các loại thuốc như nhóm opioid gây ra. Các yếu tố vật lý như tập thể dục, lạnh và nóng có thể cùng đóng góp như những nguyên nhân gây phản vệ, và những trường hợp không rõ nguyên nhân được phân loại là vô căn (idiopathic).

Bảng 109.1 Tiêu chuẩn lâm sàng để chẩn đoán phản vệ (Clinical criteria for diagnosing anaphylaxis)
Phản vệ rất có khả năng xảy ra khi bệnh nhân đáp ứng BẤT KỲ MỘT trong ba tiêu chuẩn sau đây:
1. Khởi phát cấp tính của bệnh (vài phút đến vài giờ) có liên quan đến da, mô niêm mạc, hoặc cả hai (ví dụ: mày đay toàn thân, ngứa hoặc đỏ bừng và sưng môi-lưỡi-lưỡi gà)
VÀ ÍT NHẤT MỘT TRONG CÁC DẤU HIỆU SAU ĐÂY:
a. Suy hô hấp (ví dụ: khó thở, khò khè-co thắt phế quản, thở rít, giảm lưu lượng đỉnh thở ra và giảm oxy máu)
b. Tụt huyết áp hoặc các triệu chứng rối loạn chức năng cơ quan đích kèm theo (ví dụ: giảm trương lực cơ [trụy mạch], ngất và đại tiểu tiện không tự chủ)
2. Có từ hai dấu hiệu trở lên xảy ra nhanh chóng sau khi tiếp xúc với một chất có khả năng là dị nguyên đối với bệnh nhân đó (vài phút đến vài giờ):
a. Liên quan đến mô da-niêm mạc (ví dụ: mày đay toàn thân, ngứa-đỏ bừng và sưng môi-lưỡi-lưỡi gà)
b. Suy hô hấp (ví dụ: khó thở, khò khè-co thắt phế quản, thở rít, giảm lưu lượng đỉnh thở ra và giảm oxy máu)
c. Tụt huyết áp hoặc các triệu chứng kèm theo (ví dụ: giảm trương lực cơ [trụy mạch], ngất và đại tiểu tiện không tự chủ)
d. Các triệu chứng tiêu hóa dai dẳng (ví dụ: đau quặn bụng và nôn mửa)
3. Tụt huyết áp sau khi tiếp xúc với một dị nguyên đã biết đối với bệnh nhân đó (vài phút đến vài giờ):
a. Trẻ sơ sinh và trẻ em: Huyết áp tâm thu thấp (tùy theo tuổi) hoặc giảm trên 30% huyết áp tâm thu
b. Người lớn: Huyết áp tâm thu dưới 90 mmHg hoặc giảm trên 30% so với mức huyết áp cơ bản của người đó
Chú thích: Huyết áp tâm thu thấp ở trẻ em được định nghĩa là dưới 70 mmHg đối với trẻ từ 1 tháng đến 1 tuổi, dưới (70 mmHg + (2 x tuổi)) đối với trẻ từ 1 đến 10 tuổi, và dưới 90 mmHg đối với trẻ từ 11 đến 17 tuổi. Giảm lưu lượng đỉnh thở ra (PEF – peak expiratory flow).
Nguồn: Sửa đổi từ Sampson HA, Muñoz-Furlong A, Campbell RL, et al. Báo cáo tóm tắt hội nghị chuyên đề lần thứ hai về định nghĩa và quản lý phản vệ: Hội nghị chuyên đề Mạng lưới Dị ứng Thực phẩm và Phản vệ/Viện Quốc gia về Dị ứng và Bệnh truyền nhiễm lần thứ hai. J Allergy Clin Immunol. 2006; 117:391-397.

DỊCH TỄ HỌC

Tỷ lệ mắc phản vệ ước tính biến thiên rất rộng, dao động trong khoảng từ 10 đến 20 ca trên 100.000 dân. Chưa đến một phần ba số bệnh nhân này cần phải nhập viện. Tại Vương quốc Anh từ năm 1992 đến năm 2012, số ca nhập viện tăng 615% và số ca nhập viện chăm sóc tích cực từ năm 2005 đến năm 2009 gần như tăng gấp đôi, nhưng tỷ lệ tử vong hàng năm vẫn ổn định ở mức 0,047 ca trên 100.000 dân. Ngược lại, tổng số ca nhập viện do phản vệ ở Úc đã tăng gần gấp bốn lần và số ca phản vệ tử vong gần như tăng gấp đôi trong giai đoạn 1997-2013. Mặc dù phản vệ là một tình trạng có khả năng gây tử vong cao, nhưng nó chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong khối lượng công việc của các khoa chăm sóc tích cực. Trong một báo cáo về 38.695 ca bệnh nhập khoa cấp cứu do phản vệ tại Hoa Kỳ, Motosue và cộng sự ghi nhận rằng 5,3% trường hợp cần nhập ICU, 1,5% cần đặt ống nội khí quản và chỉ 0,45% được coi là có đợt cấp gần như tử vong.

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Trang Chủ