Cẩm nang Chăm sóc tích cực của OH, ấn bản thứ 9, 2026. Chủ biên: Jonathan M. Handy, Bala Venkatesh. (C) 2026 NXB ELSEVIER.
Dịch và chú giải: BS LÊ ĐÌNH SÁNG. Cuốn sách này được dịch và xuất bản trực tuyến vì mục đích học thuật, phi lợi nhuận, duy nhất trên các nền tảng yhoclamsang.net & sachyhoc.com của THƯ VIỆN MEDIPHARM. Bản quyền thuộc về Nhà xuất bản ELSEVIER và các tác giả.
CHƯƠNG 19. NHIỄM NẤM
Fungal infection
Alastair Craig Carr
Oh’s Intensive Care Manual, 19, 151-161
Tỷ lệ mắc bệnh nhiễm nấm xâm lấn (invasive fungal infection – IFI) ở quần thể bệnh nhân hồi sức tích cực đang ngày càng gia tăng. Việc chăm sóc những bệnh nhân ngày càng suy nhược, sự gia tăng sử dụng kháng sinh phổ rộng cùng liệu pháp điều hòa miễn dịch, và gần đây nhất là đại dịch COVID-19, đều liên quan mật thiết đến sự gia tăng các ca nhiễm nấm xâm lấn bệnh viện (nosocomial IFIs). Nấm cũng có thể gây ngộ độc, các tình trạng dị ứng và viêm nhiễm đòi hỏi bệnh nhân phải nhập viện tại khoa hồi sức tích cực (ICU).
Các loài Candida là tác nhân phân lập phổ biến thứ tư (tại Hoa Kỳ) và thứ sáu (tại Châu Âu) từ các mẫu cấy máu trong hai nghiên cứu lớn. Tỷ lệ mắc nhiễm nấm máu do Candida (Candidaemia) dao động từ 0.2 đến 34/1000 bệnh nhân ICU tại các trung tâm khác nhau trên toàn cầu. Cả nhiễm nấm nguyên phát và nhiễm nấm cơ hội đều liên quan đến tỷ lệ tử vong cao, bất chấp việc điều trị phù hợp, khi tình trạng nhiễm trùng hệ thống xảy ra thay vì nhiễm trùng khu trú (Bảng 19.1).
Việc chẩn đoán và điều trị muộn làm kết cục bệnh trở nên tồi tệ hơn. Đáng tiếc là quá trình chẩn đoán thường gặp rất nhiều khó khăn:
- Việc nuôi cấy có thể mất nhiều tuần để phân lập được một số loại nấm gây bệnh nhất định và độ nhạy có thể thấp hơn 50% trong các trường hợp bệnh xâm lấn đã được chứng minh.
- Các xét nghiệm huyết thanh học thường thiếu độ nhạy và độ đặc hiệu.
- Các thay đổi trên chẩn đoán hình ảnh thường xuất hiện muộn trong quá trình tiến triển của bệnh.
- Phương pháp khối phổ thời gian bay giải hấp thụ/ion hóa bằng laser hỗ trợ ma trận (Matrix-assisted laser desorption/ionisation time-of-flight – MALDI-TOF) chỉ có thể được sử dụng để đẩy nhanh quá trình định danh nếu thu được kết quả nuôi cấy dương tính.
Các xét nghiệm phân tích nhanh (dưới 24 giờ), nhạy và đặc hiệu như phản ứng chuỗi polymerase thời gian thực phổ quát cho nấm (pan-fungal real-time polymerase chain reaction – PCR) và xét nghiệm T2-candida, đang dần khẳng định được tiện ích nhưng chưa được cung cấp rộng rãi. Các tổn thương trên da là đặc điểm của nhiều loại nhiễm nấm xâm lấn, rất thuận lợi cho việc sinh thiết cũng như chẩn đoán nếu được bác sĩ lâm sàng nhận biết (Hình 19.1).
Các dấu ấn sinh học kinh điển cho tình trạng nhiễm trùng thường kém tin cậy trong nhiễm nấm so với nhiễm khuẩn. Các phân tích gộp chỉ ra rằng nồng độ procalcitonin (PCT) tăng nhẹ (0.5 – 2 ng/mL) đi kèm với các dấu hiệu lâm sàng của nhiễm trùng huyết có thể mang lại giá trị trong việc chỉ điểm tình trạng nhiễm nấm xâm lấn. Giá trị sử dụng của protein phản ứng C (CRP) ít chắc chắn hơn với một phổ giá trị đa dạng (bao gồm cả mức bình thường) được báo cáo ngay cả trong những trường hợp nhiễm nấm xâm lấn đã được xác định.
Với những hạn chế này, việc hiểu rõ về các bệnh nhiễm nấm, tỷ lệ mắc, đặc điểm và các yếu tố rủi ro dễ mắc bệnh vẫn là điều kiện tiên quyết để chẩn đoán sớm, quản lý phù hợp và cải thiện kết cục điều trị.
NỀN TẢNG NẤM HỌC
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ