Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Cẩm nang Chăm sóc tích cực của OH, ấn bản thứ 9, 2026. CHƯƠNG 29. CÁC HỘI CHỨNG VÀNH CẤP, THĂM DÒ VÀ CAN THIỆP

154 phút đọc

Cẩm nang Chăm sóc tích cực của OH, ấn bản thứ 9, 2026. Chủ biên: Jonathan M. Handy, Bala Venkatesh. (C) 2026 NXB ELSEVIER.
Dịch và chú giải: BS LÊ ĐÌNH SÁNG. Cuốn sách này được dịch và xuất bản trực tuyến vì mục đích học thuật, phi lợi nhuận, duy nhất trên các nền tảng yhoclamsang.net & sachyhoc.com của THƯ VIỆN MEDIPHARM. Bản quyền thuộc về Nhà xuất bản ELSEVIER và các tác giả.


CHƯƠNG 29. CÁC HỘI CHỨNG VÀNH CẤP, THĂM DÒ VÀ CAN THIỆP

Acute coronary syndromes, investigations and interventions
Shanthosh Sivapathan; Faraz Pathan; Ian Seppelt
Oh’s Intensive Care Manual, 29, 263-288


GIỚI THIỆU

Bệnh lý tim mạch (Cardiovascular disease – CVD) là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trong xã hội công nghiệp phương Tây, trong đó bệnh lý động mạch vành (Coronary artery disease – CAD) chiếm khoảng 40% trong số các ca tử vong này. Lên đến 70% các trường hợp tử vong do bệnh lý động mạch vành xảy ra bên ngoài bệnh viện dưới dạng đột tử do ngừng tim. Ở những người trên 40 tuổi, nhồi máu cơ tim cấp (Acute myocardial infarction – MI) là nguyên nhân của khoảng 20% tổng số ca tử vong. Trong số những người tử vong cấp tính, 50%-65% không có tiền sử y khoa về bệnh lý tim mạch trước đó. Đối với những người bệnh nhập viện, tỷ lệ tử vong sớm là 5%-7% (cao hơn nhiều ở các nhóm nguy cơ) và có thể tăng lên 7%-18% vào thời điểm 12 tháng. Việc cải thiện tỷ lệ tử vong do bệnh lý động mạch vành tại bệnh viện và trong dài hạn đòi hỏi phải nhận diện nhanh chóng các người bệnh có nguy cơ và triển khai các phương pháp điều trị dựa trên bằng chứng.

NHỒI MÁU CƠ TIM

Nhồi máu cơ tim (Myocardial infarction – MI) xuất hiện khi có bằng chứng về hoại tử cơ tim trong một bối cảnh lâm sàng phù hợp với tình trạng thiếu máu cục bộ cơ tim. Việc chẩn đoán bao gồm sự nghi ngờ trên lâm sàng, cùng với các bằng chứng hỗ trợ từ điện tâm đồ (Electrocardiography – ECG), các dấu ấn sinh học (Biomarkers), siêu âm tim hoặc các phát hiện khi khám nghiệm tử thi để xác nhận chẩn đoán.

Nhồi máu cơ tim có thể bắt nguồn từ các cơ chế bệnh sinh và dịch tễ học khác nhau (Hộp 29.1). Mỗi cơ chế có thể có một tiên lượng khác nhau mặc dù có sự thay đổi tương tự về dấu ấn sinh học hoặc điện tâm đồ, và các hình thái nhồi máu cơ tim có thể khác nhau ở các quần thể người bệnh tại khoa cấp cứu, khoa ngoại hoặc khoa hồi sức tích cực (Intensive care unit – ICU). Điều này có thể có tầm quan trọng trên lâm sàng khi áp dụng kết quả của các thử nghiệm hoặc các hướng dẫn điều trị cho những quần thể người bệnh như vậy. Một lượng nhỏ hoại tử cơ tim có thể xảy ra ở người bệnh suy tim (Heart failure – HF), rối loạn nhịp tim, thuyên tắc phổi hoặc sau các thủ thuật tim mạch diễn ra bình thường; những trường hợp này tốt hơn nên được gọi là tổn thương cơ tim (Myocardial injury) thay vì nhồi máu cơ tim.

Hộp 29.1 Phân loại toàn cầu về nhồi máu cơ tim
Loại 1: Nhồi máu cơ tim tự phát. Nhồi máu cơ tim tự phát liên quan đến tình trạng thiếu máu cục bộ do một biến cố mạch vành tiên phát như xói mòn và/hoặc nứt vỡ, nứt rạn hoặc lóc tách mảng xơ vữa. Người bệnh có thể mắc bệnh lý động mạch vành nghiêm trọng nhưng đôi khi lại không có tình trạng tắc nghẽn động mạch vành hoặc không có bệnh lý động mạch vành.

Loại 2: Nhồi máu cơ tim thứ phát do mất cân bằng thiếu máu cục bộ. Điều này xảy ra trong những trường hợp tổn thương cơ tim kèm hoại tử, trong đó một tình trạng bệnh lý khác ngoài bệnh lý động mạch vành góp phần làm mất cân bằng giữa cung cấp và/hoặc nhu cầu oxy của cơ tim; ví dụ như rối loạn chức năng nội mô mạch vành, co thắt động mạch vành, thuyên tắc mạch vành, nhịp tim nhanh/chậm, thiếu máu, suy hô hấp, hạ huyết áp và tăng huyết áp có hoặc không có phì đại thất trái (Left ventricular hypertrophy – LVH).

Loại 3: Nhồi máu cơ tim dẫn đến tử vong khi không có sẵn giá trị dấu ấn sinh học. Tử vong do tim với các triệu chứng gợi ý thiếu máu cục bộ cơ tim, và những thay đổi thiếu máu cục bộ được cho là mới hoặc blốc nhánh trái (Left bundle branch block – LBBB) mới xuất hiện, nhưng tử vong xảy ra trước khi có thể lấy mẫu máu, trước khi các dấu ấn sinh học tim có thể tăng lên hoặc trong những trường hợp hiếm hoi là không thu thập được dấu ấn sinh học.

Loại 4a: Nhồi máu cơ tim liên quan đến can thiệp mạch vành qua da. Dấu ấn sinh học tim tăng đáng kể so với mức bình thường hoặc tăng hơn 20% nếu đã tăng trước đó. Thêm vào đó, có một trong các yếu tố sau: i. Các triệu chứng thiếu máu cục bộ cơ tim, hoặc ii. Những thay đổi điện tâm đồ thiếu máu cục bộ mới hoặc blốc nhánh trái mới xuất hiện, hoặc iii. Bằng chứng chụp mạch cho thấy mất sự thông thương hoặc có bất thường dòng chảy dai dẳng, hoặc thuyên tắc mạch, hoặc iv. Bằng chứng hình ảnh về sự mất đi phần cơ tim còn sống hoặc bất thường vận động vùng.

Loại 4b: Nhồi máu cơ tim liên quan đến huyết khối trong stent. Nhồi máu cơ tim liên quan đến huyết khối trong stent được phát hiện qua chụp mạch vành hoặc khám nghiệm tử thi trong bối cảnh thiếu máu cục bộ cơ tim và kèm theo sự tăng và/hoặc giảm đáng kể của các dấu ấn sinh học.

Loại 5: Nhồi máu cơ tim liên quan đến phẫu thuật bắc cầu nối chủ vành. Nhồi máu cơ tim liên quan đến phẫu thuật bắc cầu nối chủ vành được định nghĩa một cách quy ước là sự gia tăng giá trị dấu ấn sinh học tim từ mức nền bình thường lên trên 10 lần giới hạn trên của mức bình thường. Thêm vào đó, có một trong các yếu tố sau: i. Sóng Q bệnh lý mới hoặc blốc nhánh trái mới xuất hiện, hoặc ii. Chụp mạch vành ghi nhận sự tắc nghẽn mới ở cầu nối hoặc động mạch vành tự nhiên, hoặc iii. Bằng chứng hình ảnh về sự mất đi phần cơ tim còn sống mới hoặc bất thường vận động vùng mới.

(Từ Thygesen K, Alpert JS, Jaffe AS, et al. Fourth universal definition of myocardial infarction 2018. J Am Coll Cardiol. 2018 72 18:2231-2264. Chỉnh sửa dưới sự cho phép của Nhà xuất bản Đại học Oxford (Vương quốc Anh) và Hiệp hội Tim mạch Châu Âu.)

 

HỘI CHỨNG VÀNH CẤP

Hội chứng vành cấp (Acute coronary syndromes – ACS) mô tả phổ những người bệnh đến khám với triệu chứng khó chịu ở ngực hoặc các triệu chứng khác của tình trạng thiếu máu cục bộ cơ tim cấp tính (Hộp 29.2).

Hộp 29.2 Phân loại các hội chứng vành cấp
Hội chứng vành cấp (ACS). Một phổ các tình trạng lâm sàng đặc trưng bởi cơn đau ngực cấp tính hoặc thiếu máu cục bộ cơ tim. Cơn đau mới xuất hiện hoặc xảy ra thường xuyên hơn, dữ dội hơn hoặc kéo dài hơn so với cơn đau thắt ngực đã biết, khó kiểm soát hơn bằng thuốc hoặc xảy ra khi nghỉ ngơi hay khi gắng sức tối thiểu. Hội chứng vành cấp bao gồm nhồi máu cơ tim có ST chênh lên (STEMI), nhồi máu cơ tim không có ST chênh lên (NSTEMI) và đau thắt ngực không ổn định. Việc phân chia sơ bộ trên lâm sàng của hội chứng vành cấp được thực hiện dựa trên sự hiện diện hay vắng mặt của đoạn ST chênh lên trên điện tâm đồ.

Nhồi máu cơ tim có ST chênh lên (STEMI). Những người bệnh có hội chứng vành cấp với đoạn ST chênh lên chắc chắn sẽ biểu hiện sự gia tăng troponin ban đầu hoặc sau đó, mặc dù mức độ nhồi máu cơ tim và các biến chứng có thể được giảm thiểu đáng kể nhờ can thiệp.

Hội chứng vành cấp không có ST chênh lên (NSTEACS). Những người bệnh đến khám không có đoạn ST chênh lên sau đó (khi xét nghiệm dấu ấn sinh học) có thể được xác định là mắc: i. NSTEMI: dấu ấn sinh học tim tăng cao cho thấy có nhồi máu cơ tim. ii. Đau thắt ngực không ổn định: không có bằng chứng tăng dấu ấn sinh học tim.

Hội chứng vành cấp có thể được chia nhỏ thêm thành nhồi máu cơ tim có ST chênh lên (ST-elevation myocardial infarction – STEMI) và nhồi máu cơ tim không có ST chênh lên (Non-ST-segment elevation myocardial infarction – NSTEMI), bao gồm cả đau thắt ngực không ổn định (Unstable angina – UA), vốn phản ánh tình trạng thiếu máu cục bộ cơ tim nhưng không có tổn thương tế bào. Cả hai trường hợp này luôn được gây ra bởi sự hình thành huyết khối gần đây trên mảng xơ vữa động mạch vành đã có từ trước, đôi khi do thuyên tắc mạch hoặc lóc tách động mạch. Theo nghĩa này, chúng khác với cơn đau thắt ngực ổn định, vốn thường được kích hoạt bởi sự gia tăng nhu cầu oxy của cơ tim trên nền tình trạng hẹp động mạch vành đáng kể. Hội chứng vành cấp là những trường hợp cấp cứu y khoa và là một trong những nguyên nhân thường xuyên nhất dẫn đến việc nhập viện và nhập khoa chăm sóc mạch vành.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ