Cẩm nang Chăm sóc tích cực của OH, ấn bản thứ 9, 2026. Chủ biên: Jonathan M. Handy, Bala Venkatesh. (C) 2026 NXB ELSEVIER.
Dịch và chú giải: BS LÊ ĐÌNH SÁNG. Cuốn sách này được dịch và xuất bản trực tuyến vì mục đích học thuật, phi lợi nhuận, duy nhất trên các nền tảng yhoclamsang.net & sachyhoc.com của THƯ VIỆN MEDIPHARM. Bản quyền thuộc về Nhà xuất bản ELSEVIER và các tác giả.
CHƯƠNG 30. HỒI SINH TIM PHỔI (BAO GỒM CẢ SỐC ĐIỆN KHỬ RUNG)
Cardiopulmonary resuscitation (including defibrillation)
Peter Thomas Morley; Jerry P. Nolan
Oh’s Intensive Care Manual, 30, 289-297
Trong hai thập kỷ qua, kết cục của bệnh nhân ngừng tim (cardiac arrest) trong cả bối cảnh ngoài bệnh viện (out-of-hospital settings) và trong bệnh viện đã được cải thiện đáng kể. Có nhiều lý do tiềm năng giải thích cho sự cải thiện này, nhưng khả năng cao nhất là nhờ vào những tiến bộ không ngừng trong việc xử trí trong và sau khi ngừng tim. Thập kỷ qua cũng đã chứng kiến sự hoàn tất của nhiều thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên về nhiều can thiệp khác nhau tại mỗi mắt xích trong chuỗi cứu sống (chain of survival).
TỶ LỆ LƯU HÀNH, NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT CỤC CỦA NGỪNG TIM
Trên toàn cầu, tỷ lệ mắc ngừng tim ngoài bệnh viện (out-of-hospital cardiac arrest – OHCA) được điều trị bởi các dịch vụ y tế cấp cứu (emergency medical services – EMS) nằm trong khoảng từ 30 đến 100 trường hợp trên 100.000 người-năm. Vào năm 2019, tại Úc và New Zealand, tỷ lệ OHCA được EMS điều trị là khoảng 40 trường hợp trên 100.000 người-năm.
Tỷ lệ ngừng tim trong bệnh viện (in-hospital cardiac arrest – IHCA) có tiến hành nỗ lực hồi sức nằm trong khoảng từ 1 đến 10 trường hợp trên 1000 ca nhập viện.
Phần lớn các ca OHCA đều có nguyên nhân tại tim nguyên phát (primary cardiac cause), nhưng các nguyên nhân, bệnh lý đồng mắc và nhịp tim lúc biểu hiện lại có sự khác biệt đáng kể giữa các nghiên cứu. Hơn nữa, chẩn đoán trước khi nhập viện thường không chính xác. Trong số 314 ca OHCA được điều trị tại Adelaide, 84% được đánh giá trước khi nhập viện là do nguyên nhân tại tim. Tuy nhiên, sau khi tiến hành các thăm dò trong bệnh viện, nguyên nhân khởi phát cuối cùng được xác định do tim chỉ chiếm 53%, hô hấp 18%, ngộ độc độc chất 6%, thần kinh 3%, nguyên nhân khác 9%, và không rõ nguyên nhân 11%. Một tổng quan hệ thống về IHCA cũng ghi nhận sự phân bố các nguyên nhân trong số 27.000 ca ngừng tim như sau: thiếu oxy (hypoxia) 26%; hội chứng vành cấp (acute coronary syndrome) 18%, rối loạn nhịp tim (arrhythmias) 15%, giảm thể tích tuần hoàn (hypovolemia) 15%, nhiễm trùng 14% và suy tim 13%.
Sau khi bị OHCA được EMS điều trị, tỷ lệ sống sót đến khi xuất viện hoặc sống sót trong 30 ngày có sự biến thiên trên toàn thế giới nhưng thường nằm trong khoảng xấp xỉ 5% đến 16%. Tỷ lệ sống sót tại Úc và New Zealand là 12% đến 16%. Kết cục từ các ca IHCA trên phạm vi quốc tế cũng khác nhau nhưng thường ở mức từ 20% đến 35% đối với tỷ lệ sống sót đến khi xuất viện hoặc sống sót sau 30 ngày.
QUÁ TRÌNH ĐÁNH GIÁ QUỐC TẾ
Ủy ban Liên lạc Quốc tế về Hồi sức (International Liaison Committee on Resuscitation – ILCOR) được thành lập vào năm 1992. Ủy ban này đã thúc đẩy sự hợp tác quốc tế trong việc đánh giá khoa học hồi sức, dẫn đến việc công bố các hướng dẫn quốc tế vào năm 2000, và các tài liệu đồng thuận quốc tế về khoa học hồi sức cứ mỗi 5 năm một lần kể từ năm 2005. Kể từ năm 2015, quá trình đánh giá bằng chứng diễn ra liên tục với các bài báo tóm tắt được xuất bản hàng năm. Phương pháp Hệ thống Đánh giá, Phát triển và Phê chuẩn Khuyến cáo (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation – GRADE) được áp dụng cho các tổng quan hệ thống (các bài tổng quan đã hoàn thành có sẵn tại www.ilcor.org). Các hội đồng hồi sức lớn trên toàn thế giới (bao gồm Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ và Hội Hồi sức Châu Âu) sử dụng thông tin này làm nền tảng để phát triển các hướng dẫn của họ. Các hướng dẫn của khu vực Úc-Á (được bảo trợ chung bởi Hội đồng Hồi sức Úc và Hội đồng Hồi sức New Zealand) được cập nhật khi cần thiết, và phiên bản hiện tại được xuất bản trực tuyến dưới sự bảo trợ của Ủy ban Hồi sức Úc và New Zealand (ANZCOR).
HỒI SINH TIM PHỔI CƠ BẢN
Trình tự chung của việc quản lý hồi sinh tim phổi cơ bản (basic life support – BLS) được phác thảo trong sơ đồ quy trình Hồi sinh tim phổi cơ bản cập nhật của ANZCOR (Hình 30.1).
Bắt Đầu Hồi Sinh Tim Phổi
Các hướng dẫn BLS hiện tại khuyến cáo nên bắt đầu hồi sinh tim phổi (cardiopulmonary resuscitation – CPR) bằng thao tác ép tim nếu nạn nhân không có phản ứng và không thở bình thường. Một người cung cấp hồi sinh tim phổi nâng cao (advanced life support – ALS) được đào tạo bài bản có thể kiểm tra mạch trung tâm (ví dụ: mạch cảnh) trong tối đa 10 giây trong thời gian đánh giá này, nhưng tuyệt đối không được để thao tác này làm trì hoãn việc tiến hành CPR.

Hình 30.1 Sơ đồ quy trình hồi sinh tim phổi cơ bản. (Được sao chép dưới sự cho phép từ Hội đồng Hồi sức Úc [www.anzcor.org]).
Ép Tim Ngoài Lồng Ngực
Thực hiện CPR chất lượng cao được xem là yếu tố then chốt giúp đạt kết cục tốt nhất có thể sau ngừng tim. Nhiều yếu tố đánh giá chất lượng đã được đề xuất nhưng dữ liệu tốt nhất hiện có là dành cho tốc độ và độ sâu ép tim.
Vị trí ép tim
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ