Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Cẩm nang Chăm sóc tích cực của OH, ấn bản thứ 9, 2026. CHƯƠNG 92. SUY HÔ HẤP CẤP Ở TRẺ EM

67 phút đọc

Cẩm nang Chăm sóc tích cực của OH, ấn bản thứ 9, 2026. Chủ biên: Jonathan M. Handy, Bala Venkatesh. (C) 2026 NXB ELSEVIER.
Dịch và chú giải: THS.BS LÊ ĐÌNH SÁNG. Cuốn sách này được dịch và xuất bản trực tuyến vì mục đích học thuật, phi lợi nhuận, duy nhất trên các nền tảng yhoclamsang.net & sachyhoc.com của THƯ VIỆN MEDIPHARM. Bản quyền thuộc về Nhà xuất bản ELSEVIER và các tác giả.


CHƯƠNG 92. SUY HÔ HẤP CẤP Ở TRẺ EM

Acute respiratory distress in children
Tavey Dorofaeff; Mark Graeme Coulthard

Oh’s Intensive Care Manual, 92, 1035-1044


GIỚI THIỆU

Suy Hô Hấp Cấp Ở Trẻ Em

Tương tự như ở người lớn, suy hô hấp cấp (acute respiratory failure) ở trẻ em là tình trạng hệ thống hô hấp không thể thực hiện chức năng trao đổi khí, dẫn đến quá trình oxy hóa máu và đào thải carbon dioxide diễn ra không đầy đủ. Thuật ngữ suy hô hấp (respiratory distress) dùng để chỉ cảm giác khó thở chủ quan cũng như các dấu hiệu khách quan của việc tăng nỗ lực thở, hệ quả của quá trình trao đổi khí đang xấu đi hoặc như một cơ chế bù trừ nhằm đáp ứng với tình trạng toan hóa máu (acidosis). Các chỉ số bình thường theo độ tuổi của nhịp thở được liệt kê trong Bảng 92.1. Tình trạng thở nhanh (tachypnoea) có thể xuất hiện đơn thuần hoặc đi kèm với các dấu hiệu và triệu chứng thể hiện sự gia tăng công thở như co kéo cơ liên sườn, sử dụng cơ hô hấp phụ, co kéo khí quản và tiếng “thở rên” vào cuối kỳ thở ra. Đây là những dấu hiệu và triệu chứng cảnh báo kinh điển của tình trạng suy hô hấp ở trẻ em (Hộp 92.1).

Dịch Tễ Học

Dữ liệu thống kê từ cơ sở dữ liệu của Hiệp hội Chăm sóc Tích cực Úc và New Zealand (Australian and New Zealand Intensive Care Society – ANZPIC) chỉ ra rằng viêm tiểu phế quản (bronchiolitis), viêm phổi (pneumonia), hen suyễn (asthma) và viêm thanh khí phế quản (laryngotracheobronchitis / croup) là những chẩn đoán hô hấp phổ biến nhất trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2022 và rất có thể sẽ tiếp tục duy trì xu hướng này trong tương lai. Ở tất cả các ca nhập viện vào năm 2022, có khoảng 50% bệnh nhân cần đến một hình thức hỗ trợ hô hấp nhất định. Cứ ba trường hợp thì có khoảng một trường hợp mắc bệnh lý hô hấp và hơn một nửa số đó cần được hỗ trợ hô hấp. Phương thức hỗ trợ hô hấp được sử dụng rộng rãi nhất đối với các bệnh lý hô hấp là liệu pháp oxy lưu lượng cao qua canula mũi (high-flow nasal cannula – HFNC) (chiếm 59.8%). Nhìn chung, tỷ lệ sử dụng thông khí xâm lấn là 33.3% và 16.6% trong nhóm các chẩn đoán hô hấp hàng đầu, cho thấy sự sụt giảm so với mức 21.1% của năm 2013. Thời gian nằm viện trung bình cho các ca bệnh lý hô hấp là 3.6 ngày. Để so sánh, thời gian nằm viện đối với một ca nhập viện mổ phiên theo kế hoạch là 1.6 ngày. Tổng thể tỷ lệ tử vong tại khoa Hồi sức Tích cực Nhi khoa (Paediatric Intensive Care Unit – PICU) được ghi nhận ở mức 2.2% cho năm 2022, dao động ở mức trung bình từ 2.0% đến 2.5% trong các năm từ 2013 đến 2022. Tỉ lệ tử vong tại các đơn vị PICU thấp hơn đáng kể khi so sánh với khoa hồi sức người lớn. Đây chính là một trong những điểm khác biệt nền tảng phân định ranh giới giữa hai chuyên ngành này.

Sự Khác Biệt Về Cơ Học Hô Hấp Ở Trẻ Em

Trẻ sơ sinh (neonates) và nhũ nhi nhỏ (small infants) có nhu cầu tiêu thụ oxy phục vụ chuyển hóa cơ bản lúc nghỉ ngơi cao hơn nhiều, ước tính khoảng 7 mL/kg/phút so với mức 4 mL/kg/phút ở trẻ em lứa tuổi học đường hoặc người lớn.

Bên cạnh đó, trẻ sơ sinh và nhũ nhi nhỏ còn mang nhiều đặc điểm khác biệt so với trẻ vị thành niên và người lớn, khiến chúng rơi vào thế bất lợi hơn khi mắc bệnh.

Bảng 92.1. Nhịp tim và nhịp thở bình thường theo độ tuổi ở trẻ em nhập viện

NHÓM TUỔI NHỊP THỞ TRUNG BÌNH (BÁCH PHÂN VỊ THỨ 5-95) NHỊP TIM TRUNG BÌNH (BÁCH PHÂN VỊ THỨ 5-95)
0-3 tháng 41 (27-62) 140 (113-171)
3-6 tháng 38 (25-58) 135 (108-167)
6-9 tháng 35 (23-54) 131 (104-163)
9-12 tháng 33 (22-51) 128 (101-160)
12-18 tháng 31 (21-48) 124 (97-157)
18-24 tháng 29 (20-45) 120 (92-154)
2-3 tuổi 27 (18-42) 115 (87-150)
3-4 tuổi 25 (18-40) 111 (82-146)
4-6 tuổi 24 (17-37) 106 (77-142)
6-8 tuổi 23 (16-35) 100 (71-137)
8-12 tuổi 21 (15-31) 94 (66-129)
12-15 tuổi 19 (13-28) 87 (61-121)
15-18 tuổi 18 (13-25) 82 (57-115)

Nguồn: Phỏng theo Bonafide CP, Brady PW, Keren R, et al. Development of heart and respiratory rate percentile curves for hospitalised children. Pediatrics. 2013; 131 (4):e1150-e1157.

Hộp 92.1. Các nguyên nhân gây suy hô hấp ở trẻ em
Các nguyên nhân phổ biến gây suy hô hấp ở trẻ sơ sinh

Bẩm sinh

Hội chứng suy hô hấp ở trẻ sinh non (Respiratory distress syndrome of prematurity)

Bệnh tim bẩm sinh (Congenital heart disease)

Mềm sụn thanh quản/khí quản/phế quản (Laryngo/tracheo/bronchomalacia)

Vòng và khuyên mạch máu (Vascular rings and slings)

Thoát vị cơ hoành (Diaphragmatic hernia)

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ