Cẩm nang Chăm sóc tích cực của OH, ấn bản thứ 9, 2026. Chủ biên: Jonathan M. Handy, Bala Venkatesh. (C) 2026 NXB ELSEVIER.
Dịch và chú giải: THS.BS LÊ ĐÌNH SÁNG. Cuốn sách này được dịch và xuất bản trực tuyến vì mục đích học thuật, phi lợi nhuận, duy nhất trên các nền tảng yhoclamsang.net & sachyhoc.com của THƯ VIỆN MEDIPHARM. Bản quyền thuộc về Nhà xuất bản ELSEVIER và các tác giả.
CHƯƠNG 93. LIỆU PHÁP DỊCH VÀ ĐIỆN GIẢI Ở TRẺ EM
Paediatric fluid and electrolyte therapy
Sophie Skellett
Oh’s Intensive Care Manual, 93, 1045-1055
Liệu pháp truyền dịch và điện giải đóng vai trò thiết yếu trong quá trình chăm sóc trẻ em bị bệnh nặng. Mặc dù trẻ em và trẻ sơ sinh có những điểm khác biệt nhất định so với người lớn, nhiều nguyên tắc và các cuộc tranh luận xoay quanh liệu pháp truyền dịch vẫn có sự tương đồng.
Liệu pháp truyền dịch đường tĩnh mạch (intravenous fluid therapy) có thể được chỉ định nhằm điều chỉnh hoặc duy trì sự cân bằng dịch và điện giải, đảm bảo chức năng sinh lý bình thường ở những trẻ bị bệnh cấp tính. Việc phân biệt rõ các lý do truyền dịch là rất quan trọng vì phương pháp điều trị sẽ khác nhau, và các tình trạng này hoàn toàn có thể xảy ra đồng thời:
- Hồi sức bằng dịch truyền đường tĩnh mạch: nhằm nhanh chóng làm tăng thể tích tuần hoàn hiệu quả trong khoang nội mạch để khôi phục lưu lượng máu đến các cơ quan quan trọng.
- Dịch truyền duy trì đường tĩnh mạch: được áp dụng khi bệnh nhi không thể dung nạp thức ăn hoặc chất lỏng qua đường tiêu hóa để đáp ứng nhu cầu dịch của cơ thể.
- Dịch truyền thay thế đường tĩnh mạch: nhằm bù đắp cho những lượng dịch tiếp tục mất đi (ví dụ: nôn mửa và tiêu chảy).
- Sự phụ thuộc vào người chăm sóc để được cung cấp thức ăn, nước uống và sự hạn chế trong khả năng giao tiếp về nhu cầu của bản thân. Điểm phức tạp hơn là tình trạng mất nước ở nhóm tuổi này không phải lúc nào cũng dễ dàng nhận biết.
Do đó, các bác sĩ cần phải đặc biệt cẩn trọng và chú ý đến các liệu pháp truyền dịch đường tĩnh mạch vì tỷ lệ mắc bệnh và tử vong có thể rất đáng kể. Khác với người lớn, trẻ em và trẻ sơ sinh được kê y lệnh truyền dịch đường tĩnh mạch dựa trên trọng lượng cơ thể. Ngoài ra, trẻ em và trẻ sơ sinh bị hạ natri máu (hyponatraemia) có nguy cơ phát triển phù não (cerebral oedema) và các biến chứng thần kinh cao hơn nhiều so với người lớn.
TRẺ EM VÀ TRẺ SƠ SINH LÀ NHỮNG ĐỐI TƯỢNG KHÁC BIỆT
Trẻ em và trẻ sơ sinh yêu cầu lượng nước tỷ lệ thuận với trọng lượng cơ thể cao hơn so với người lớn để duy trì sự cân bằng dịch, do đó các em dễ bị thiếu hụt dịch và mất nước hơn. Các nguyên nhân bao gồm:
- Tổng lượng nước cơ thể (total body water) cao: Tổng lượng nước cơ thể ở trẻ sơ sinh sinh non có thể lên tới 80%; trẻ nhỏ là 70%; trẻ em là 65%; người lớn là 60%. Khi trẻ lớn lên, khoang nội bào tăng lên và khoang ngoại bào giảm đi.
- Tỷ lệ diện tích bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể cao hơn dẫn đến lượng nước mất qua lớp biểu bì nhiều hơn, đặc biệt là ở trẻ sơ sinh. Điều này cũng làm tăng sự nhạy cảm của trẻ đối với những thay đổi về nhiệt độ môi trường.
- Tốc độ chuyển hóa và nhịp thở cao hơn: làm tăng nhu cầu sử dụng nước cho sự phát triển (diễn ra đặc biệt mạnh mẽ trong năm đầu tiên) và tăng tình trạng mất nước qua phổi.
- Chức năng thận chưa trưởng thành: mức lọc cầu thận (glomerular filtration rate) thấp khi mới sinh (chỉ bằng 25% giá trị của người lớn), tăng dần trong năm đầu tiên. Đồng thời, chức năng cô đặc nước tiểu của thận chưa trưởng thành ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có thể dẫn đến việc bài tiết nước qua nước tiểu ngay cả khi bệnh nhi đang đối mặt với tình trạng mất nước.
DỊCH TRONG HỒI SỨC
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ