CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT CÁC TRIỆU CHỨNG THƯỜNG GẶP, ẤN BẢN THỨ 7
(Differential Diagnosis of Common Complaints, Seventh Edition)
Tác giả: Seller, Robert H., MD – Nhà xuất bản: Elsevier
Biên dịch: Ths.Bs. Lê Đình Sáng
Chương 32: Tiết dịch niệu đạo và Khó tiểu
Urethral Discharge and Dysuria
Robert H. Seller, MD; Andrew B. Symons, MD, MS
Differential Diagnosis of Common Complaints, 32, 379-390
Khoảng 2 triệu trường hợp viêm niệu đạo (ở nam và nữ) xảy ra hàng năm tại Hoa Kỳ; hơn 60% trong số này là không do lậu. Viêm niệu đạo không do lậu (nongonococcal urethritis) xảy ra thường xuyên hơn năm lần so với viêm niệu đạo do lậu, phần lớn là do sự suy giảm của viêm niệu đạo do lậu. Chlamydia, gây ra viêm niệu đạo không do lậu, là một nguyên nhân chính gây bệnh lây truyền qua đường tình dục (STD) và vô sinh ở Hoa Kỳ. Do tần suất của các triệu chứng khó tiểu và tiết dịch niệu đạo, vấn đề sức khỏe cộng đồng liên quan, và sự dễ dàng trong điều trị, điều cần thiết là các bác sĩ phải có chuyên môn trong việc nhận biết các nguyên nhân của những triệu chứng này.
Khó tiểu (dysuria) biểu thị cảm giác nóng rát hoặc đau khi đi tiểu và có thể có nhiều nguyên nhân. Tiểu nhiều lần, tiểu ngập ngừng, tiểu gấp, và tiểu buốt (tiểu chậm, đau) là các triệu chứng khác thường liên quan đến các rối loạn tiểu tiện. Tiểu gấp xảy ra do kích thích tam giác bàng quang (trigonal) hoặc niệu đạo sau (posterior urethral irritation) do viêm, sỏi, hoặc khối u; nó thường xảy ra nhất với viêm bàng quang (cystitis). Các quá trình viêm cấp tính của bàng quang gây đau hoặc tiểu gấp khi chỉ có một lượng nhỏ nước tiểu trong bàng quang.
Khi do các vấn đề về bàng quang, tiểu nhiều lần xảy ra khi dung tích bàng quang giảm hoặc khi đau khi bàng quang căng. Tiểu nhiều lần thường do các tổn thương của bàng quang hoặc niệu đạo, mặc dù các bệnh của hệ thần kinh liên quan đến sự chi phối thần kinh của bàng quang (ở trung ương như trong bệnh giang mai thần kinh và đa xơ cứng hoặc ở ngoại vi như trong bệnh thần kinh đái tháo đường) có thể gây mất bù bàng quang với các bất thường khi đi tiểu. Tiểu nhiều lần cũng có thể là một biểu hiện của tiểu không tự chủ do quá đầy, có thể xảy ra với phì đại tuyến tiền liệt (prostatic hypertrophy) hoặc rối loạn bàng quang thần kinh (neurologic bladder disorders).
Các tổn thương viêm của tuyến tiền liệt, bàng quang, và niệu đạo là nguyên nhân phổ biến nhất của khó tiểu và tiểu nhiều lần và bao gồm viêm tuyến tiền liệt (prostatitis) ở nam giới, viêm niệu đạo – tam giác bàng quang (urethrotrigonitis) ở phụ nữ, và nhiễm trùng bàng quang (bladder infections) và niệu đạo (urethral infections) ở nam và nữ. Cả nam và nữ đều có thể bị viêm mạn tính niệu đạo sau (chronic inflammation of the posterior urethra). Tại Hoa Kỳ, khó tiểu chiếm 5%–15% các lượt khám bác sĩ gia đình; tuy nhiên, chỉ 50% phụ nữ bị khó tiểu có viêm bàng quang kinh điển với nồng độ vi khuẩn cấy nước tiểu lớn hơn 10^5 sinh vật/mL. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng những phụ nữ có triệu chứng với số lượng vi khuẩn trong nước tiểu dưới 10^5 sinh vật/mL (hội chứng niệu đạo nữ) nên được coi là có nguyên nhân nhiễm trùng và nên được điều trị tương ứng.
Cơ địa bệnh nhân
Ở trẻ em, hẹp lỗ sáo (meatal stenosis) có thể gây nhiễm trùng đường tiết niệu dưới tái phát. Có tới 20% trẻ em có các triệu chứng tiết niệu có thể bị hẹp lỗ sáo ở một mức độ nào đó. Khó tiểu và tiết dịch niệu đạo không phổ biến ở trẻ em. Khi những triệu chứng này xảy ra ở bé gái, chúng thường do viêm âm đạo do hóa chất (chemical vaginitis) hoặc viêm niệu đạo cơ học (mechanical urethritis). Khi những dấu hiệu này được thấy ở bé trai, chúng thường là thứ phát sau viêm niệu đạo cơ học, có thể do sự va đập liên tục của đáy chậu khi đi xe đạp, cưỡi ngựa, dị vật, hoặc thủ dâm. Các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STD) phải được xem xét trong các trường hợp viêm niệu đạo hoặc viêm âm đạo xảy ra ở bé trai hoặc bé gái. Nếu phát hiện STD ở trẻ nhỏ, lạm dụng trẻ em thường là nguyên nhân. Nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI) nên được xem xét ở trẻ sơ sinh và trẻ em (từ 2 tháng đến 2 tuổi) bị sốt không giải thích được trong 2 ngày hoặc hơn.
Nhiễm khuẩn niệu (bacteriuria) hiếm gặp ở các bé trai tuổi đi học và chỉ xảy ra ở 0.1% nam giới. Tỷ lệ nhiễm khuẩn niệu tăng ở nam giới ở tuổi 50 và tăng lên khoảng 1% ở tuổi 60 và 4%–15% trong những năm sau đó, trùng với sự khởi phát của bệnh tuyến tiền liệt. Phụ nữ dưới 18 tuổi có tỷ lệ nhiễm khuẩn niệu không triệu chứng là 5%. Có nhiều bạn tình làm tăng khả năng mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục như Chlamydia, lậu, và herpes.
Phụ nữ trong độ tuổi từ 15 đến 34 chiếm phần lớn những người có các triệu chứng của nhiễm trùng đường tiết niệu. Khó tiểu ở phụ nữ thường do viêm bàng quang (cystitis), viêm bàng quang kẽ (interstitial cystitis), viêm âm đạo (vaginitis), hội chứng niệu đạo nữ (female urethral syndrome), và kích ứng cơ học của niệu đạo (mechanical irritation of the urethra). Khó tiểu ở nam giới trẻ tuổi thường do viêm niệu đạo do Chlamydia (Chlamydia urethritis). Ở nam giới trên 35 tuổi, UTI là do vi khuẩn coliform; ở nam giới lớn tuổi, viêm tuyến tiền liệt và viêm bàng quang dẫn đến ứ đọng nước tiểu thường do phì đại tuyến tiền liệt. Khó tiểu cũng có thể do sỏi, viêm niệu đạo cơ học, và thuốc. Tiết dịch niệu đạo, về cơ bản chỉ giới hạn ở nam giới, thường do viêm niệu đạo do lậu (gonorrheal urethritis) hoặc không do lậu (nongonorrheal urethritis) (Chlamydia hoặc Trichomonas). Một người đàn ông hút thuốc có tiểu máu âm tính khi cấy và khó tiểu nên được kiểm tra để tìm khối u bàng quang.
Tính chất triệu chứng
Viêm bàng quang
Ở phụ nữ phàn nàn về tiểu nhiều lần, tiểu gấp, và khó tiểu mà không có bằng chứng lâm sàng về nhiễm trùng đường tiết niệu trên, viêm bàng quang do vi khuẩn (bacterial cystitis) thường được nghi ngờ. Các báo cáo chủ quan sau đây của một phụ nữ bị khó tiểu làm cho chẩn đoán UTI có khả năng cao, đến mức điều trị theo kinh nghiệm là hợp lý: tự chẩn đoán viêm bàng quang (“Tôi đã bị UTI trước đây, và cảm giác này giống như UTI”), không có tiết dịch âm đạo, có tiểu máu, và tiểu nhiều lần. Sự kết hợp giữa khó tiểu và tiểu nhiều lần không có tiết dịch hoặc kích ứng âm đạo cho thấy khả năng bị UTI rất cao (tỷ số khả năng dương tính [LR +] = 24.6).
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ