ĐỊNH NGHĨA
Khe hở môi (sứt môi), khe hở vòm miệng là các dạng dị tật bẩm sinh ở môi và miệng thấy khá nhiều trong các sắc dân Á châu.
Chứng khe hở môi và hở vòm miệng đứng đầu trong các khuyết tật bẩm sinh – khoảng 1/600 trẻ sơ sinh bị chứng này, từ trường hợp rất nhẹ cho đến nặng. tỉ lệ cao nhất ở dân châu Á, tiếp theo là dân da trắng, và thấp nhất ở dân da đen.
Nam nhiều hơn nữ
NGUYÊN NHÂN
Khe hở môi và hở vòm miệng xuất hiện từ giai đoạn phát triển phôi thai do sự rối loạn ráp nối giữa các nụ mặt (thuyết nụ mầm của Rhatket (1832), Dursy (1869) và His (1888), vào năm 1930 Victor Veau bổ sung thêm bằng thuyết tường chìm (Mur plonggeant).
Nguyên nhân do di truyền (tiền sử gia đình), yếu tố nố mẹ mang thai khi đã lớn tuổi hay mắc bệnh lý trong quá trình mang thai, yếu tố stress, môi trường (phóng xạ, chất độc, …)
Trẻ bị khe hở môi, khe hở vòm miệng sẽ bị thiếu phát triển mặt, thiếu răng, sai khớp cắn, phát âm sai, viêm tai mản, sặc thức ăn, viêm đường hô hấp mãn tính….
CHẨN ĐOÁN – PHÂN LOẠI
Harkin và cộng sự (1962): Đưa ra phân loại khe hở mặt dựa trên phôi thai học như Kernathan và Stark nhưng có cải tiến hơn:
Khe hở môi
Một bên:
Bán phần (khe hở chưa đến nền mũi)
Toàn phần (khe hở đi đến nền mũi)
Hai bên:
Bán phần (khe hở chưa đến nền mũi)
Toàn phần (khe hở đi đến nền mũi)
Giữa.
Khe hở xương ổ:
Một bên.
Hai bên.
Giữa.
Khe hở vòm miệng
Khe toàn bộ: chạy dài từ lỗ khẩu cái trước đến lỗ khẩu cái sau
Khe bán phần: 1 phần khẩu cái cứng và toàn bộ khẩu cái mềm
Khe mềm: chỉ có ở phần mềm
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ