Hội chứng Buồng trứng Đa nang: Từ Cơ sở Khoa học đến Các Tiến bộ Lâm sàng trong Suốt Cuộc đời | Polycystic Ovary Syndrome – Basic Science to Clinical Advances Across the Lifespan.
Biên tập: Rehana Rehman and Aisha Sheikh | (C) 2025 Nhà xuất bản Elsevier.
Dịch và Chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng, Ts.Bs. Ngô Đức Kỷ
CHƯƠNG 13. HỘI CHỨNG TƯƠNG ĐƯƠNG BUỒNG TRỨNG ĐA NANG Ở NAM GIỚI
AHMED SAYED METTAWI
Giới Thiệu
Hội chứng buồng trứng đa nang (polycystic ovary syndrome – PCOS) là một trong những rối loạn nội tiết và chuyển hóa phổ biến và được xác định rõ ràng nhất ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Ước tính có tới 13% phụ nữ trong độ tuổi sinh sản bị ảnh hưởng bởi tình trạng này, mặc dù một tỷ lệ rất lớn trong số họ không được chẩn đoán (khoảng 70%). Các triệu chứng gây phiền toái và những biến chứng đi kèm thường là lý do khiến bệnh nhân tìm đến các cơ sở y tế; những vấn đề này bao gồm nhưng không giới hạn ở chu kỳ kinh nguyệt bất thường, vô sinh, rậm lông và mụn trứng cá, các biến chứng chuyển hóa (ví dụ: tăng cân, đái tháo đường (diabetes mellitus – DM), hội chứng chuyển hóa (metabolic syndrome – MetS)), cùng với các rối loạn ăn uống và tâm trạng.
Tình trạng này đã được nghiên cứu từ năm 1935 khi nó được gọi là hội chứng Stein-Leventhal, trong đó buồng trứng đa nang là một thành phần thiết yếu của hội chứng. Qua nhiều năm, cơ chế bệnh sinh tiềm ẩn và nền tảng rối loạn chuyển hóa đã được làm sáng tỏ ở một mức độ lớn và nhiều đặc điểm đã được thống nhất (ví dụ: tình trạng giảm nhạy cảm với insulin, cường androgen (hyperandrogenism – HA), và rối loạn điều hòa gonadotropin). Người ta đã đưa ra giả thuyết rằng hầu hết các trường hợp đều có chung những bất thường ở khâu thượng nguồn (ví dụ: quá trình sinh tổng hợp steroid hoặc những bất thường về insulin) nhưng có thể khác nhau ở các biểu hiện hạ nguồn; hình thái buồng trứng đa nang (polycystic ovarian morphology – PCO) là một ví dụ đáng chú ý vì nó chỉ xuất hiện ở 80% bệnh nhân và cũng có thể được phát hiện ở những người bình thường. Thực tế, do có phổ biểu hiện lâm sàng rộng, và để tránh nhầm lẫn, nhiều tổ chức đã nỗ lực đưa ra các tiêu chuẩn có thể giúp bác sĩ lâm sàng đạt được chẩn đoán chính xác (ví dụ: Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (National Institutes of Health – NIH), Hiệp hội Cường Androgen, và Hiệp hội Sinh sản và Phôi thai học Châu Âu/Hiệp hội Y học Sinh sản Hoa Kỳ (ESHRE/ASRM) hoặc đồng thuận Rotterdam), kết thúc bằng hướng dẫn quốc tế về PCOS mới nhất năm 2018 được xây dựng dựa trên tiêu chuẩn Rotterdam (Bảng 13.1). NIH đã công bố các khuyến cáo dựa trên bằng chứng trong hội thảo phương pháp luận năm 2012 của họ, phác thảo sự cần thiết phải báo cáo các kiểu hình PCOS trong nghiên cứu và nêu chi tiết bốn kiểu hình (Bảng 13.2). Đáng chú ý, chẩn đoán PCOS là một chẩn đoán loại trừ vì nhiều đặc điểm trùng lặp với các rối loạn khác (ví dụ: rối loạn tuyến giáp, tăng prolactin máu, tăng sản thượng thận bẩm sinh thể không cổ điển).
Bảng 13.1 Sự tiến triển của các Tiêu chuẩn Chẩn đoán Hội chứng Buồng trứng Đa nang (PCOS) qua các năm
| Tiêu chuẩn và Thời gian | NIH 1990 | Rotterdam (ESHRE/ASRM) 2003 | Hiệp hội AE-PCOS 2006 | Hướng dẫn Dựa trên Bằng chứng Quốc tế về PCOS 2018 |
|---|---|---|---|---|
| Các tiêu chí | 1. Không rụng trứng mạn tính/Rối loạn chức năng kinh nguyệt; 2. Bằng chứng lâm sàng và/hoặc sinh hóa của tình trạng cường androgen |
1. Rụng trứng thưa hoặc không rụng trứng; 2. Bằng chứng lâm sàng và/hoặc sinh hóa của tình trạng cường androgen; 3. Hình thái buồng trứng đa nang |
1. Bằng chứng lâm sàng và/hoặc sinh hóa của tình trạng cường androgen; 2. Rối loạn chức năng buồng trứng và/hoặc hình thái buồng trứng đa nang |
Ủng hộ tiêu chuẩn Rotterdam 2003 với điểm nhấn mạnh rằng hình thái buồng trứng là không cần thiết trong vòng 8 năm sau khi có kinh nguyệt lần đầu. Phụ nữ có nguy cơ được theo dõi để đáp ứng các tiêu chuẩn theo thời gian. Tập trung nhiều vào lâm sàng hơn là các đánh giá cận lâm sàng/siêu âm. |
| Điều kiện cần để chẩn đoán | Cả hai | 2 trong 3 | Cả hai | Giống như Rotterdam 2003 nhưng không bao gồm tiêu chí hình thái buồng trứng đa nang ở thanh thiếu niên |
(Nguồn: Chuyển thể từ Aversa A, la Vignera S, Rago R, et al. Fundamental concepts and novel aspects of polycystic ovarian syndrome: expert consensus resolutions. Front Endocrinol (Lausanne). 2020;11(516); Teede H, Misso M, Costello M, et al. International evidence-based guideline for the assessment and management of polycystic ovary syndrome. Monash University. 2018; và NIH Evidence-Based Workshop Panel. NIH evidence-based workshop on polycystic ovary syndrome. 2012.)
Bảng 13.2 Các Kiểu hình khác nhau của Hội chứng Buồng trứng Đa nang (PCOS) theo Hội thảo Phương pháp luận dựa trên Bằng chứng của NIH
| Kiểu hình A | Kiểu hình B | Kiểu hình C | Kiểu hình D |
|---|---|---|---|
| • Cường androgen; • Rối loạn chức năng rụng trứng; • Hình thái PCO |
• Cường androgen; • Rối loạn chức năng rụng trứng |
• Cường androgen; • Hình thái PCO |
• Rối loạn chức năng rụng trứng; • Hình thái PCO |
Ghi chú: Các kiểu hình có các phân nhóm đi kèm hoặc không đi kèm béo phì. NIH, Viện Y tế Quốc gia; PCO, buồng trứng đa nang; PCOS, hội chứng buồng trứng đa nang.
Bằng chứng gợi ý sự hiện diện của một tình trạng tương đương giống PCOS ở nam giới, đặc biệt là ở những người thân của bệnh nhân nữ mắc PCOS, đã tích lũy dần qua nhiều năm. Thật vậy, với thực tế là những bất thường ở thượng nguồn tương tự của PCOS đang được quan sát thấy ở nam giới, phổ biểu hiện của PCOS ở nữ giới rộng như thế nào, và việc có bao nhiêu tác giả tin rằng tên gọi “PCOS” gây hiểu nhầm (tức là thuật ngữ “hội chứng Stein-Leventhal” ít gây nhầm lẫn hơn), không có gì ngạc nhiên khi giả thuyết cho rằng PCOS có một dạng tương đương ở nam giới đã tồn tại từ lâu.
Mục đích của chương này là xem xét các y văn hiện tại nghiên cứu về tình trạng PCOS tương đương ở nam giới, những quan sát được phát hiện ở người thân của bệnh nhân nữ mắc PCOS, các nguy cơ liên quan đến tình trạng này ở nam giới, sự khác biệt về giới tính, và các tuyên bố đồng thuận về chủ đề này; đồng thời cung cấp hướng dẫn lâm sàng về cách chuyển hóa tất cả những điều đó thành các khuyến cáo hữu ích cho việc sàng lọc và chẩn đoán.
Các Phát Hiện Ở Những Người Thân Là Nam Giới Của Bệnh Nhân Nữ Mắc Hội Chứng Buồng Trứng Đa Nang
Những phát hiện ở người thân là nam giới (đặc biệt là người thân thế hệ thứ nhất) của bệnh nhân nữ mắc PCOS ủng hộ giả thuyết về một dạng PCOS tương đương ở nam giới. Bắt đầu với các nghiên cứu di truyền (từ đầu năm 1989), sự quần tụ gia đình và tính di truyền của PCOS được cho là chủ yếu mang tính chất trội trên nhiễm sắc thể thường và được phát hiện có liên quan đến đặc điểm hói đầu sớm ở nam giới, gợi ý rằng một gene duy nhất có thể là nguyên nhân. Tình cờ, có vẻ như tính đa hình di truyền của vùng khởi động gene hormone kích thích nang trứng (follicle-stimulating hormone – FSH) B (FSHB) có liên quan đến một mô hình nội tiết tố PCOS nền tảng tương tự ở nam giới (tức là nồng độ hormone tạo hoàng thể (luteinizing hormone – LH) cao hơn và FSH thấp hơn); FSHB là một locus nhạy cảm trên nhiễm sắc thể 11p14.1 mà sau này đã được chứng minh là có liên quan chặt chẽ với tình trạng PCOS và nồng độ LH ở nữ giới trong các nghiên cứu tương quan toàn hệ gene (genome-wide association studies – GWAS) và một mối liên hệ như vậy ủng hộ mạnh mẽ giả thuyết về sự di truyền gene của các bất thường giống PCOS ở người thân của bệnh nhân nữ.
Do sự quan tâm ngày càng tăng đối với việc nghiên cứu những khác biệt về nội tiết tố ở người thân nam giới của những người mắc PCOS, một số nghiên cứu đã được tiến hành, mặc dù còn ít, và những phát hiện của họ đã xác định một mối liên hệ chặt chẽ khả dĩ giữa việc có người thân thế hệ thứ nhất mắc tình trạng PCOS và việc biểu hiện các bất thường tương tự. Anh em trai của bệnh nhân PCOS dường như thể hiện những đặc điểm sau đây so với nhóm chứng: nồng độ dehydroepiandrosterone sulfate (DHEAS) cao hơn (và chị em gái của họ không mắc PCOS dường như cũng có nồng độ DHEAS và testosterone cao hơn); nồng độ hormone chống Müller (anti-Müllerian hormone – AMH), LH, và FSH cơ bản cao hơn (các ông bố dường như cũng thể hiện những bất thường tương tự); đáp ứng quá mức của LH và FSH đối với xét nghiệm kích thích hormone giải phóng gonadotropin (gonadotropin-releasing hormone – GnRH) (tức là, càng củng cố thêm giả thuyết về khiếm khuyết thượng nguồn lớn hơn, như các khiếm khuyết giải phóng gonadotropin). Nồng độ AMH dường như cao hơn ở các bé trai trước tuổi dậy thì là con của các bệnh nhân nữ mắc PCOS. Nhiều nghiên cứu gặp phải những hạn chế về cỡ mẫu khiến không thể khái quát hóa thêm một số phát hiện (đặc biệt là những phát hiện liên quan đến chứng hói đầu sớm ở người thân của bệnh nhân PCOS).
Bệnh Lý Tim Mạch Và Các Nguy Cơ Khác Ở Người Thân Của Bệnh Nhân Mắc Hội Chứng Buồng Trứng Đa Nang
Ngày càng có nhiều bằng chứng làm sáng tỏ nguy cơ bệnh lý tim mạch (cardiovascular disease – CVD) gia tăng ở những người thân nam giới thế hệ thứ nhất của bệnh nhân mắc PCOS. Taylor và các cộng sự đã quy lý do nguy cơ CVD không tăng ở nữ giới cho hai khả năng: những bất thường trong các yếu tố nguy cơ của họ không đủ để làm tăng nguy cơ CVD trong 10 năm (tức là, nghiên cứu của họ được tính toán bằng cách sử dụng điểm số bệnh tim mạch vành (coronary heart disease – CHD) Framingham và tham chiếu đến quần thể Khảo sát Kiểm tra Sức khỏe và Dinh dưỡng Quốc gia (National Health and Nutrition Examination Survey – NHANES)) và/hoặc sự hiện diện của một số khía cạnh bảo vệ của PCOS (tức là dự trữ buồng trứng cao hơn) ở nữ giới mắc bệnh.
Người ta đã đề xuất rằng người thân nam giới của bệnh nhân PCOS có nguy cơ cao mắc các rối loạn chuyển hóa (tức là béo phì, đái tháo đường, tăng huyết áp, và rối loạn lipid máu), mặc dù sự gia tăng nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa (MetS) được cho là do tỷ lệ béo phì gia tăng ở quần thể này, trái ngược với tác động độc lập của androgen đối với nguy cơ MetS ở nữ giới, theo nghiên cứu cắt ngang so sánh với dữ liệu NHANES của Coviello và cộng sự. Trong một phân tích gộp của Yilmaz và cộng sự, họ đã đưa ra kết luận rằng người thân thế hệ thứ nhất có nguy cơ gia tăng mắc MetS, tăng huyết áp, và rối loạn lipid máu, mặc dù họ đã chỉ ra một số hạn chế trong cách tiếp cận của mình và các nghiên cứu được đưa vào (tức là, tất cả đều là nghiên cứu cắt ngang, bằng tiếng Anh và chỉ từ PubMed, việc lấy mẫu được thực hiện từ các phòng khám nội tiết/phụ khoa, và có khả năng sử dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán khác nhau).
Anh em trai của bệnh nhân PCOS có biểu hiện suy giảm chức năng nội mạc (tức là được đo bằng sự giãn mạch qua trung gian lưu lượng dòng chảy (flow-mediated dilatation – FMD)), đặc biệt nếu họ có tiền sử gia đình mắc đái tháo đường típ 2; họ cũng có huyết áp và chỉ số lipid cao hơn so với nhóm chứng. Kaushal và các cộng sự đã không thể tìm thấy sự giảm FMD tương tự ở những phụ nữ mắc PCOS không có tiền sử gia đình mắc bệnh đái tháo đường (tức là trái ngược với phát hiện ở các nhóm nam giới).
Chỉ có một số ít nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa tình trạng kháng insulin (insulin resistance – IR) và việc có người thân thế hệ thứ nhất mắc PCOS. Trong nghiên cứu của mình, Kaushal và các cộng sự cũng chứng minh được sự suy giảm độ nhạy insulin (tức là được đo bằng nghiệm pháp dung nạp insulin ngắn) ở người thân nam và nữ, và việc có tiền sử gia đình mắc đái tháo đường chỉ làm suy giảm đáng kể độ nhạy cảm này ở nữ giới. Kết quả này phù hợp với kết quả của một nghiên cứu trước đó do Norman và cộng sự thực hiện, cho thấy tình trạng tăng insulin máu phổ biến ở gần 70% mẫu nghiên cứu (tức là, chứng hói đầu sớm dường như cũng là một phát hiện phổ biến quan trọng ở nam giới trong mẫu nghiên cứu, mặc dù cỡ mẫu nhỏ). Yilmaz và các cộng sự đã sử dụng dữ liệu của nhóm chứng phù hợp về độ tuổi và chỉ số khối cơ thể (body mass index – BMI) và chứng minh rằng người thân thế hệ thứ nhất của bệnh nhân PCOS có các chỉ số IR cao hơn đáng kể (tức là, đánh giá mô hình cân bằng nội môi (homeostatic model assessment – HOMA IR), diện tích dưới đường cong của insulin trong nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống (AUCI, AUCG), và các chỉ số khác) trong khi có các chỉ số độ nhạy insulin thấp hơn đáng kể (tức là chỉ số nhạy cảm insulin (insulin sensitivity index – ISI), chỉ số kiểm tra độ nhạy insulin định lượng (quantitative insulin sensitivity check index – QUICKI)) và thậm chí nồng độ adiponectin trong huyết thanh thấp hơn.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ