Hỏi & Đáp Nội tiết học lâm sàng, Ấn bản thứ 8 (2026). Endocrine Secrets Eighth Edition.
Copyright © 2026 by Elsevier Inc. Chủ biên: Michael T. McDermott. DỊCH VÀ CHÚ GIẢI: BS LÊ ĐÌNH SÁNG
Cuốn sách này được dịch và xuất bản trực tuyến trên các website yhoclamsang.net & sachyhoc.com của Thư viện Medipharm vì mục đích lan toả tri thức, hoàn toàn phi lợi nhuận.
CHƯƠNG 34. U TỦY THƯỢNG THẬN VÀ U CẬN HẠCH THẦN KINH
Pheochromocytomas and Paragangliomas
Ethan Stortz; John J. Orrego; Lauren Fishbein
Endocrine Secrets, Chapter 34, 331-340
1. U Tủy Thượng Thận Và U Cận Hạch Thần Kinh Là Gì?
U tủy thượng thận và u cận hạch thần kinh là các khối u (tumors) của hệ thần kinh tự chủ (autonomic nervous system). U tủy thượng thận (Pheochromocytoma – PCC) là một khối u tủy thượng thận (adrenal medullary tumor) phát sinh từ các tế bào ưa crom (chromaffin cells) và có thể chế tiết ra metanephrine cùng catecholamine.
U cận hạch thần kinh (Paraganglioma – PGL) là một khối u ngoài tuyến thượng thận (extra-adrenal tumor) có nguồn gốc từ các hạch giao cảm hoặc đối giao cảm (sympathetic or parasympathetic ganglia). Các PGL giao cảm có thể chế tiết metanephrine và catecholamine. Các PGL vùng đầu và cổ (head and neck PGLs – HNPGLs) thường thuộc hệ đối giao cảm và không có chức năng chế tiết. Tuy nhiên, khoảng 4% các HNPGL vẫn có khả năng tiết hormone.
Nhìn chung, khoảng 80% các khối u này là PCC và 20% là PGL.
2. U Tủy Thượng Thận Và U Cận Hạch Thần Kinh Phổ Biến Đến Mức Nào?
Tỷ lệ mắc mới PCC và PGL là 0,66 ca trên 100.000 người mỗi năm (tương đương 7 người mỗi năm trong một thành phố có 1 triệu dân). PCC và PGL chiếm từ 0,2–0,6% ở những người bệnh (patients) tăng huyết áp tại các phòng khám ngoại trú đa khoa. Các nghiên cứu tử thiết cho thấy ít nhất 0,05% dân số mang các khối u chưa được chẩn đoán, điều này chỉ ra rằng có rất nhiều ca PCC và PGL bị bỏ sót. Ngoài ra, PCC chiếm khoảng 1–5% trong số các u tuyến thượng thận phát hiện tình cờ (adrenal incidentalomas).
3. Các U Cận Hạch Thần Kinh Nằm Ở Đâu?
PGL có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào từ nền sọ (skull base) cho đến sàn chậu (pelvic floor). Hầu hết các PGL phát sinh ở vùng bụng và chậu, thường ở vị trí ngã ba giữa tĩnh mạch chủ dưới và tĩnh mạch thận trái, hoặc tại cơ quan Zuckerkandl (organ of Zuckerkandl), nằm ở chỗ chia nhánh của động mạch chủ ngay sát nhánh động mạch mạc treo tràng dưới. PGL cũng phát triển ở lồng ngực, bao gồm màng ngoài tim, bàng quang và tuyến tiền liệt. Các HNPGL thường được tìm thấy nhiều nhất ở gần tiểu thể cảnh (carotid body) nhưng chúng cũng có thể hình thành ở bất kỳ đâu trong vùng cổ hoặc nền sọ.
4. Di Truyền Học Có Tầm Quan Trọng Như Thế Nào Trong U Tủy Thượng Thận Và U Cận Hạch Thần Kinh?
Khoảng 30–40% người bệnh mắc PCC và PGL mang một biến thể gây bệnh dòng mầm (germline pathogenic variant/mutation) di truyền nằm trong một trong số hơn 12 gen nhạy cảm đã được mô tả rõ ràng (xem Bảng 34.1). Các biến thể gây bệnh dòng mầm ở những gen này di truyền theo kiểu gen trội trên nhiễm sắc thể thường (autosomal dominant pattern), với độ thấm (penetrance) thay đổi tùy thuộc vào từng loại gen. Do tính di truyền rất cao của PCC/PGL, bác sĩ được khuyến cáo chỉ định xét nghiệm di truyền cho tất cả những người bệnh mắc PCC hoặc PGL.
Bảng 34.1. Các Đặc Điểm Của Các Hội Chứng Liên Quan Đến U Tủy Thượng Thận Và U Cận Hạch Thần Kinh
| Gen, Hội chứng | Tỷ lệ Lưu hành của Biến đổi Di truyền trong PCC/PGL | Độ thấm đối với PCC/PGL | Nguy cơ PCC/PGL Di căn | Một số Đặc điểm Lâm sàng của Hội chứng Đi kèm |
|---|---|---|---|---|
| RET, MEN2A & MEN2B | 6% | 50% | <5% | Ung thư biểu mô tuyến giáp thể tủy (MTC), PCC (thường ở hai bên), Cường cận giáp (MEN2A) (Xem Chương MEN để biết chi tiết) |
| NF1, U sợi thần kinh típ 1 (Neurofibromatosis type 1) | 3% | 8–14% | 12% | U sợi thần kinh (dạng rối và/hoặc ngoài da), PCC (thường ở hai bên), Dát cà phê sữa (Café-au-lait spots), Nốt Lisch, U thần kinh đệm thị giác, Loạn sản xương dài |
| VHL, Von Hippel-Lindau | 4–7% | 20% | <5% | PCC > PGL (PCC thường ở hai bên), U nguyên bào mạch máu thần kinh trung ương (CNS hemangioblastoma), Khối u túi nội dịch, Nang tuyến tụy & PNETs, Ung thư biểu mô tế bào thận (RCC) & nang thận |
| SDHA, Hội chứng PGL/PCC Di truyền | <1–3% | 10% ở tuổi 70 | 12% | PCC & PGL, GIST, RCC |
| SDHB, Hội chứng PGL/PCC Di truyền | 9–10% | 22–26% ở tuổi 60 | 25–50% | PCC & PGL, RCC, GIST |
| SDHC, Hội chứng PGL/PCC Di truyền | 1% | 25% ở tuổi 60 | <5% | PGL vùng đầu-cổ & lồng ngực, PCC, RCC, GIST |
| SDHD, Hội chứng PGL/PCC Di truyền | 2–9% | 43% ở tuổi 60 | 3–8% | PGL vùng đầu-cổ, PCC/PGL nguyên phát đa ổ, RCC, GIST, kiểu di truyền từ cha (paternal inheritance pattern) |
| SDHAF2, Hội chứng PGL/PCC Di truyền | <1% | Chưa rõ | Chưa rõ nhưng thấp | PGL vùng đầu và cổ, RCC, GIST, kiểu di truyền từ cha |
Ghi chú: PCC, U tủy thượng thận (Pheochromocytoma); PGL, u cận hạch thần kinh (paraganglioma); MEN, Đa u tuyến nội tiết (multiple endocrine neoplasia); RET, Tái sắp xếp trong quá trình Chuyển nhiễm (Rearranged during Transfection); NF1, U sợi thần kinh típ 1 (Neurofibromatosis type 1); VHL, Von Hippel-Lindau; SDHA, Tiểu đơn vị A của Succinate Dehydrogenase (Succinate Dehydrogenase Subunit A); SDHB, Tiểu đơn vị B của Succinate Dehydrogenase; SDHC, Tiểu đơn vị C của Succinate Dehydrogenase; SDHD, Tiểu đơn vị D của Succinate Dehydrogenase; CNS, hệ thần kinh trung ương (central nervous system); PNET, u thần kinh nội tiết tuyến tụy (pancreatic neuroendocrine tumor); RCC, ung thư biểu mô tế bào thận (renal cell carcinoma); GIST, u mô đệm đường tiêu hóa (gastrointestinal stromal tumor).
(Được phỏng theo: Sharma S, Fishbein L. Diagnosis and management of pheochromocytomas and paragangliomas: a guide for the clinician. Endocr Pract . 2023;29(12):999–1006; Turin CG, Crenshaw MM, Fishbein L. Pheochromocytoma and paraganglioma: germline genetics and hereditary syndromes. Endocr Oncol. 2022;2(1):R65–R77.)
5. Nguồn Gốc Từ Cha Mẹ Có Liên Quan Đến Bất Kỳ Hội Chứng U Tủy Thượng Thận – U Cận Hạch Thần Kinh Nào Không?
Có! Các hội chứng PGL/PCC di truyền phát sinh từ các biến thể gây bệnh dòng mầm ở gen Tiểu đơn vị D của Succinate Dehydrogenase (Succinate Dehydrogenase Subunit D – SDHD) mang tính di truyền từ người cha. Điều này có nghĩa là hội chứng này chỉ có biểu hiện lâm sàng nếu biến thể gây bệnh ở gen SDHD được di truyền từ người cha của người bệnh chỉ điểm (proband). Những người con thừa hưởng một biến thể gây bệnh ở gen SDHD từ người mẹ vẫn có thể truyền gen đó cho thế hệ sau, nhưng bản thân họ không biểu hiện kiểu hình lâm sàng của hội chứng PCC/PGL di truyền. Một điểm quan trọng cần lưu ý là những người con trai thừa hưởng biến thể gây bệnh ở gen SDHD từ mẹ, sau này vẫn có thể sinh ra các con trai và con gái có biểu hiện bệnh trên lâm sàng. Sự di truyền biến thể gây bệnh ở gen Yếu tố Lắp ráp Succinate Dehydrogenase 2 (Succinate Dehydrogenase Assembly Factor 2 – SDHAF2) cũng mang tính chất di truyền phụ thuộc vào nguồn gốc cha mẹ tương tự.
6. Các Biến Thể Gây Bệnh Dòng Mầm Ở Gen SDHx Dẫn Đến U Tủy Thượng Thận Và U Cận Hạch Thần Kinh Bằng Cách Nào?
Succinate Dehydrogenase, còn được gọi là Phức hợp II (Complex II) trong chuỗi chuyền electron, là một enzyme nằm trên màng ty thể đóng vai trò then chốt trong quá trình phosphoryl hóa oxy hóa và chu trình axit citric. Cấu trúc của nó gồm bốn tiểu đơn vị đảm nhiệm các vai trò cụ thể. SDHA và SDHB liên kết với các cơ chất và xúc tác cho các phản ứng enzyme. SDHC và SDHD thực hiện nhiệm vụ neo giữ phức hợp vào màng ty thể. Một protein thứ năm, Yếu tố Lắp ráp Succinate Dehydrogenase 2 (SDHAF2), giúp ổn định toàn bộ phức hợp và hỗ trợ xúc tác các phản ứng. Cụ thể, Succinate Dehydrogenase oxy hóa succinate thành fumarate, đồng thời khử flavine adenine dinucleotide (FAD) thành FADH.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ