Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Ngoại khoa Căn bản: Vấn đề, Chẩn đoán và Quản lý, Ấn bản thứ 7 (2026). CHƯƠNG 24: U TỤY VÀ HỆ THỐNG GAN MẬT; LÁCH

36 phút đọc

Ngoại khoa Căn bản: Vấn đề, Chẩn đoán và Quản lý, ấn bản thứ 7 (2026)
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 7th Edition
Biên tập viên chính: Clive R. G. Quick, Suzanne Biers, Tan Arulampalam, Philip J. Deakin
Dịch & Chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng – (C) 2026 Elsevier


CHƯƠNG 24: U TỤY VÀ HỆ THỐNG GAN MẬT; LÁCH

Tumours of the pancreas and hepatobiliary system; the spleen
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 24, 384-392


GIỚI THIỆU

Hơn 90% các ca ung thư tụy là ung thư biểu mô tuyến (adenocarcinomas) xuất phát từ các tế bào ống tuyến ngoại tiết. Loại ung thư này có tiên lượng sống tồi tệ nhất trong tất cả các bệnh lý ác tính đường tiêu hóa (gastrointestinal – GI), với chỉ khoảng 25% sống sót sau 1 năm và 5% sống sót sau 5 năm. Ung thư tụy là loại ung thư phổ biến thứ 10 tại Vương quốc Anh. Ít gặp hơn nhiều là các tân sinh phát sinh từ tế bào nang tuyến (tiết dịch) ngoại tiết (2% các trường hợp) hoặc từ các tế bào đảo tụy nội tiết (8% các trường hợp). Một số u nội tiết biểu hiện bằng việc tăng tiết hormone quá mức, ví dụ như insulin, glucagon hoặc gastrin. Khoảng 90% u tiết insulin (insulinomas) là lành tính, và mặc dù phần lớn các u còn lại là ác tính, thời gian sống thêm thường kéo dài.

Ung thư biểu mô tuyến ống thường biểu hiện muộn, chủ yếu với các triệu chứng đau bụng dai dẳng, sụt cân và vàng da tắc mật do chèn ép ống mật chủ. Vàng da tắc mật cũng là biểu hiện thường gặp của các ung thư biểu mô quanh bóng Vater (periampullary carcinomas) hiếm gặp. Nhóm này bao gồm ung thư đường mật (cholangiocarcinomas) và ung thư biểu mô tuyến của bóng Vater hoặc tá tràng.

Viêm đường mật xơ cứng nguyên phát (Primary sclerosing cholangitis – PSC) là một bệnh lý gan không ác tính hiếm gặp, liên quan đến tình trạng xơ hóa viêm của các ống mật. Bệnh có biểu hiện tương tự như ung thư tụy và do đó được đề cập trong chương này. Ung thư biểu mô túi mật hiếm gặp thường biểu hiện với các triệu chứng của viêm túi mật, với vàng da xuất hiện muộn hơn.

Các u gan nguyên phát ít gặp ở các nước thu nhập cao nhưng phổ biến ở một số nước thu nhập thấp, nơi viêm gan B và C là các yếu tố nguy cơ chính. Các u gan thứ phát (di căn) phổ biến ở khắp mọi nơi do sự lan truyền theo đường máu của nhiều loại ung thư. Các bệnh lý ngoại khoa của lách được đề cập ở cuối chương này.

UNG THƯ BIỂU MÔ TỤY

Bệnh học

Đa số trường hợp là ung thư biểu mô tuyến xuất phát từ các tế bào lót ống tụy. Khoảng 60%-70% phát sinh ở đầu tụy và 30%-40% phát sinh ở thân hoặc đuôi tụy. Các ung thư này thường hình thành mô hình ống nhỏ biệt hóa tốt nhưng mặc dù vậy, chúng có tính ác tính rất cao. Khối u di căn sớm đến các hạch bạch huyết, phúc mạc, và gan thông qua tĩnh mạch cửa (Hình 24.1). Dưới 20% trường hợp có thể phẫu thuật cắt bỏ được tại thời điểm phát hiện, và như đã đề cập, tiên lượng chung là rất xấu.

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Trang Chủ