Ngoại khoa Căn bản: Vấn đề, Chẩn đoán và Quản lý, ấn bản thứ 7 (2026)
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 7th Edition
Biên tập viên chính: Clive R. G. Quick, Suzanne Biers, Tan Arulampalam, Philip J. Deakin
Dịch & Chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng – (C) 2026 Elsevier
CHƯƠNG 32. VÙNG BẸN VÀ CƠ QUAN SINH DỤC NAM – THOÁT VỊ VÀ CÁC VẤN ĐỀ VÙNG BẸN KHÁC
Hernias and other groin problems
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 32, 476-487
Giới thiệu
Chương này bước đầu mô tả các biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán các khối u và tình trạng sưng tấy ở vùng bẹn. Các loại thoát vị thành bụng trước (thoát vị bụng) sẽ được đề cập ở phần cuối chương.
Các khối u và sưng vùng bẹn chiếm khoảng 10% các trường hợp chuyển tuyến đến phòng khám ngoại khoa tổng quát. Ở cả hai giới, khối u phổ biến nhất ở vùng bẹn là thoát vị, chủ yếu là thoát vị bẹn nhưng cũng có thể là thoát vị đùi. Các hạch bạch huyết to do nhiễm trùng hoặc bệnh lý ác tính cũng biểu hiện dưới dạng khối u hoặc sưng vùng bẹn. Ít gặp hơn là các bất thường về mạch máu như phình giãn tĩnh mạch hiển (saphena varix) hoặc phình động mạch đùi. Rất hiếm khi gặp áp xe cơ thắt lưng chậu (psoas abscess) lan xuống dưới dây chằng bẹn và biểu hiện tại vùng bẹn. Đây từng là biến chứng phổ biến của lao cột sống nhưng hiện nay thường là kết quả của nhiễm trùng không do lao lan xuống từ vết thủng ở đại tràng phải hoặc trái vào khoang sau phúc mạc. Các nguyên nhân bao gồm viêm túi thừa, viêm ruột thừa sau manh tràng và viêm đại tràng Crohn.
Khối u vùng bẹn
Thăm khám lâm sàng
Cần thăm khám cả vùng bẹn và bìu để phát hiện nguồn gốc giải phẫu của khối sưng. Các khối u ở vùng bẹn được thăm khám giống như các khối u ở nơi khác, nhưng có một số điểm đặc biệt cần lưu ý:
- Luôn thăm khám người bệnh ở cả tư thế đứng và nằm.
- Kiểm tra dấu hiệu xung động khi ho (cough impulse).
- Kiểm tra khả năng đẩy xẹp (tính nắn chỉnh được) của khối u.
- Xác định mối liên quan giữa gốc của khối u với dây chằng bẹn và củ mu.
Tư thế thăm khám
Việc thăm khám vùng bẹn phải được thực hiện trong phòng kín đáo có người giám hộ (chaperone). Trước tiên, người bệnh phải được thăm khám khi đang đứng. Tư thế này làm tăng áp lực trong ổ bụng và giúp nhìn thấy thoát vị rõ hơn. Yêu cầu người bệnh ho trong khi đang sờ nắn khối u: áp lực trong ổ bụng truyền qua thành bụng sẽ tạo ra một xung động giãn nở (dấu hiệu chạm ngón) trong túi thoát vị. Các thoát vị bẹn nhỏ có thể xẹp xuống khi nằm, và giãn tĩnh mạch thừng tinh (scrotal varicocele) (xem Chương 33) sẽ xẹp đi.
Mật độ và khả năng đẩy xẹp
Các khối thoát vị thường mềm và “xốp”, nhưng dấu hiệu chẩn đoán đáng tin cậy nhất là khối u xẹp xuống khi người bệnh nằm phẳng hoặc có thể được đẩy trở lại vào xoang bụng bằng các thao tác nhẹ nhàng của người bệnh hoặc bác sĩ lâm sàng. Hầu hết các thoát vị bẹn đều có thể đẩy lên được ít nhất một phần, mặc dù các thoát vị lâu ngày dần trở nên không đẩy lên được do dính bên trong túi thoát vị. Tình trạng này được gọi là thoát vị kẹt (incarcerated), tức là không nắn chỉnh được mạn tính. Ngược lại, thoát vị đùi gần như luôn không đẩy lên được và không có dấu hiệu xung động khi ho vì ống đùi rất hẹp (Bảng 32.1), đây là một cái bẫy phổ biến đối với những người thiếu cảnh giác.
Thoát vị bẹn nghẹt (strangulated) có thể được chẩn đoán dễ dàng khi thấy một khối thoát vị không đẩy lên được ở đúng vị trí giải phẫu; khối u đau và thường đỏ. Ngược lại, thoát vị đùi nghẹt thường rất nhỏ và không gây chú ý, thường chỉ bằng kích thước quả nho. Thoát vị nghẹt, đặc biệt là thoát vị đùi, đôi khi biểu hiện bằng đau bụng hoặc các dấu hiệu tắc ruột nhưng không có đau khu trú tại vùng bẹn. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm tra các lỗ thoát vị ở mọi người bệnh có bụng ngoại khoa cấp tính và cần cảnh giác với dạng thoát vị đùi dễ gây nhầm lẫn như đã mô tả.
Hạch bẹn to thay đổi về mật độ, số lượng và kích thước tùy thuộc vào nguyên nhân bệnh lý; tất nhiên chúng không thể đẩy xẹp được. Phình giãn tĩnh mạch hiển (saphena varix) rất mềm và biến mất hoàn toàn khi sờ nắn hoặc khi người bệnh nằm xuống, đầy lại khi thả tay hoặc khi người bệnh đứng dậy. Chân bên đó gần như luôn có các búi giãn tĩnh mạch rõ ràng. Phình giãn tĩnh mạch hiển cũng biểu hiện dấu hiệu xung động khi ho. Tuy nhiên, phình động mạch đùi có mật độ chắc nhưng đập theo nhịp mạch. Các tình trạng mạch máu này phải được chẩn đoán chính xác vì một cuộc mổ thiếu thận trọng có thể gây ra thảm họa!
Bảng 32.1: Tóm tắt các khối u và sưng vùng bẹn và đặc điểm lâm sàng
| Rối loạn | Cơ sở giải phẫu/phát triển | Đặc điểm lâm sàng |
|---|---|---|
| Thoát vị bẹn | ||
| Trực tiếp | Phình đơn thuần các tạng trong ổ bụng do sự hỗ trợ không đầy đủ của thành sau ống bẹn bị yếu hoặc rách (mạc ngang) | Khó chịu; khối u thường biến mất khi nằm xuống; nguy cơ bị kẹt nếu khối lớn nhưng ít nguy cơ bị nghẹt |
| Gián tiếp | Sự di chuyển của các tạng trong ổ bụng, thường bao gồm ruột, qua ống bẹn hướng về phía bìu hoặc môi lớn | Có khả năng bị kẹt và nghẹt; phổ biến hơn nhiều ở nam giới |
| Thoát vị đùi | Các tạng trong ổ bụng, thường bao gồm ruột, di chuyển vào ống đùi | Hiếm khi có dấu hiệu xung động khi ho; hiếm khi đẩy lên được, tỷ lệ nghẹt cao; phổ biến hơn ở nữ giới |
| Bệnh lý hạch bẹn | Các hạch bẹn dẫn lưu chi dưới, thành bụng dưới rốn, ống hậu môn, da bìu và dương vật (nhưng không phải tinh hoàn, vốn dẫn lưu về các hạch cạnh động mạch chủ và cạnh chậu) | Hạch to biểu hiện tình trạng nhiễm trùng, u lympho hoặc di căn từ tổn thương nguyên phát trong vùng dẫn lưu |
| Phình giãn tĩnh mạch hiển (Saphena varix) | Giãn tĩnh mạch hiển lớn nông so với mạc sâu trước khi đổ vào tĩnh mạch đùi | Có thể bị nhầm với thoát vị đùi nhưng xẹp khi ấn và biến mất khi nằm xuống, không giống thoát vị đùi; có giãn tĩnh mạch ở chân |
| Phình động mạch đùi | Giãn động mạch đùi chung ngay dưới dây chằng bẹn | Gặp ở người bệnh trên 65 tuổi, chủ yếu là nam giới; dấu hiệu lâm sàng kinh điển là khối đập giãn nở theo nhịp mạch; có thể nhầm với thoát vị đùi |
| Áp xe cơ thắt lưng chậu | Điển hình là áp xe lao cột sống thắt lưng lan xuống bên trong bao cơ thắt lưng chậu; thỉnh thoảng, áp xe sinh mủ bắt nguồn trong ổ bụng biểu hiện qua cùng đường này | Lao biểu hiện sưng hoặc ‘áp xe lạnh’ dưới dây chằng bẹn; ngày nay hiếm gặp nhưng có thể nhầm với hạch bạch huyết; áp xe sinh mủ thường là ‘nóng’; hiếm khi do áp xe từ sỏi thận |
Mối liên quan với dây chằng bẹn
Cần xác định vị trí của khối u trong mối liên quan với dây chằng bẹn. Dây chằng này không nhìn thấy được nhưng căng giữa hai mốc xương sờ thấy được: gai chậu trước trên ở phía ngoài và củ mu ở phía trong (xem Hình 32.1A). Củ mu nằm cao hơn so với hình dung từ đường nét da, nằm cách nếp lằn bẹn 2-3 cm về phía trên. Gai chậu dễ xác định nhưng củ mu có thể khó tìm, đặc biệt ở người bệnh béo phì. Tốt nhất là tìm bằng cách sờ dọc theo bờ trên của khớp mu, từ đường giữa ra phía ngoài (cần thận trọng ở người bệnh nam vì thừng tinh có thể đau tại vị trí bắt chéo củ mu).
Như thể hiện trong Hình 32.2, thoát vị bẹn luôn xuất phát phía trên dây chằng bẹn, trong khi thoát vị đùi, phình giãn tĩnh mạch hiển và phình động mạch đùi luôn xuất phát bên dưới dây chằng này. Hạch bẹn to thường nằm dưới dây chằng bẹn.
Thoát vị bẹn trực tiếp và gián tiếp (Hình 32.3)
Phân biệt giữa thoát vị bẹn trực tiếp và gián tiếp có thể khó khăn trên lâm sàng, và một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng ngay cả các phẫu thuật viên có kinh nghiệm cũng thường nhầm lẫn. Theo định nghĩa, thoát vị bẹn gián tiếp là loại mà túi thoát vị nằm trong thừng tinh, rời ổ bụng qua lỗ bẹn sâu (lỗ bẹn trong) ở phía ngoài so với các mạch máu thượng vị dưới, đi dọc theo ống bẹn, và thoát ra qua lỗ bẹn nông (lỗ bẹn ngoài). Do đó, nếu thoát vị có thể được đẩy lên hoàn toàn, việc dùng ngón tay ấn lên lỗ bẹn sâu sẽ ngăn không cho nó xuất hiện trở lại khi ho (lỗ bẹn sâu nằm ở điểm giữa đường nối khớp mu và củ mu, cách mạch đùi 2,5 cm về phía trên; xem Hình 32.1A). Ngược lại, thoát vị bẹn trực tiếp rời ổ bụng qua một điểm yếu hoặc vết rách ở mạc ngang (thành sau của ống bẹn), chui ra trực tiếp qua lỗ bẹn nông, nằm ở phía trong so với các mạch máu thượng vị dưới. Thoát vị này không thể kiểm soát được bằng cách ấn ngón tay lên lỗ bẹn sâu. Trong thực tế, nghiệm pháp này khó thực hiện và thường không đáng tin cậy. Tuổi của người bệnh có lẽ là chỉ số hữu ích nhất về loại thoát vị bẹn có khả năng mắc phải, với thoát vị gián tiếp thường gặp nhất ở độ tuổi dưới 50 và thoát vị trực tiếp phổ biến hơn sau độ tuổi đó.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ