Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Ngoại khoa Căn bản: Vấn đề, Chẩn đoán và Quản lý, Ấn bản thứ 7 (2026). CHƯƠNG 39. Sinh lý bệnh, Đặc điểm Lâm sàng và Chẩn đoán Bệnh lý mạch máu chi

40 phút đọc

Ngoại khoa Căn bản: Vấn đề, Chẩn đoán và Quản lý, ấn bản thứ 7 (2026)
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 7th Edition
Biên tập viên chính: Clive R. G. Quick, Suzanne Biers, Tan Arulampalam, Philip J. Deakin
Dịch & Chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng – (C) 2026 Elsevier


CHƯƠNG 39. Sinh lý bệnh, đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán Bệnh lý mạch máu chi

Pathophysiology, clinical features and diagnosis of vascular disease affecting the limbs
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 39, 555-566


Giới thiệu

Thuật ngữ ‘bệnh động mạch ngoại biên’ (peripheral arterial disease – PAD) thường được dùng để chỉ bệnh lý tắc nghẽn (‘bít tắc’) các động mạch lớn ở chi dưới, gây ra tình trạng thiếu máu cục bộ (ischaemia). Thuật ngữ ‘bệnh mạch máu ngoại biên’ (peripheral vascular disease – PVD) cũng có nghĩa là bệnh động mạch. Tuy nhiên, một loạt các rối loạn mạch máu có thể gây ra triệu chứng ở chi trên và chi dưới, bao gồm bất kỳ bệnh lý nào của động mạch, tĩnh mạch hoặc mạch bạch huyết bên ngoài tim. Chương này tập trung vào các vấn đề liên quan đến mạch máu chi dưới vì đây là những tình trạng phổ biến nhất mà các bác sĩ phẫu thuật mạch máu (vascular surgeons) gặp phải, đặc biệt là với sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường (diabetes mellitus). Các triệu chứng ở chi trên được tóm tắt trong Bảng 39.5.

Người bệnh mắc các rối loạn mạch máu chi có thể đến khám tại bất kỳ chuyên khoa y tế nào và một số trường hợp đòi hỏi phải xử trí khẩn cấp, ví dụ như thiếu máu chi cấp tính, loét bàn chân do đái tháo đường hoặc thiếu máu mạn tính đe dọa chi. Do đó, tất cả các bác sĩ lâm sàng cần hiểu rõ các nguyên tắc chẩn đoán cũng như phạm vi và thời điểm điều trị. Chương này bao gồm sinh lý bệnh của tình trạng thiểu năng mạch máu chi, bao gồm chi tiết về cách khai thác tiền sử và thăm khám người bệnh nghi ngờ mắc bệnh mạch máu, và quy trình để đưa ra chẩn đoán sơ bộ ‘giai đoạn đầu’.

Thiểu năng mạch máu chi

Thiểu năng động mạch và thiểu năng tĩnh mạch là tình trạng phổ biến và có thể là cấp tính hoặc mạn tính (Bảng 39.1). Các rối loạn động mạch chi dưới chủ yếu do xơ vữa động mạch (atherosclerosis) nhưng cũng có thể do huyết khối thuyên tắc động mạch (arterial thromboembolism), các biến chứng của bệnh phình mạch và ngày càng phổ biến là biến chứng của đái tháo đường. Các rối loạn huyết khối và giãn tĩnh mạch của hệ thống tĩnh mạch cũng có thể gây ra các triệu chứng ở chi dưới. Một số người bệnh mắc đồng thời cả bệnh lý động mạch và tĩnh mạch, góp phần tạo nên bức tranh “hỗn hợp” của loét chi dưới.

Thiểu năng động mạch có nghĩa là cung cấp máu động mạch không đủ cho chi, có thể xảy ra trong vài giờ hoặc vài ngày (cấp tính) hoặc trong vài tuần, vài tháng hoặc vài năm (mạn tính). Thiểu năng động mạch cấp tính thường do thuyên tắc mạch (embolism), thường có nguồn gốc từ tim, kẹt lại tại chỗ chia đôi của một động mạch bình thường. Nếu trước đó không có tắc nghẽn động mạch mạn tính, sự thiếu hụt tuần hoàn bàng hệ có nghĩa là tình trạng thiếu máu cục bộ thường rất nặng nề và đe dọa sự sống còn của chi. Thiểu năng động mạch cấp tính cũng có thể do huyết khối tại chỗ (in situ thrombosis) trên mảng xơ vữa động mạch ở chi dưới hoặc, ít gặp hơn nhiều, do huyết khối của phình động mạch khoeo (Bảng 39.2) hoặc lóc tách động mạch chủ lan xuống các mạch máu chi dưới.

Bảng 39.1 Sinh lý bệnh của thiểu năng động mạch và tĩnh mạch – hậu quả lâm sàng của các bệnh lý mạch máu ảnh hưởng đến chi dưới

Bệnh lý cơ bản Quá trình sinh lý bệnh Biểu hiện lâm sàng
Xơ vữa động mạch và thuyên tắc mạch gây thiếu máu cục bộ
Hẹp động mạch phân phối lớn do xơ vữa Nguồn cung cấp động mạch không đủ để cung cấp cho cơ bắp khi gắng sức. Đi lặc cách hồi (Intermittent claudication) – đau cơ khi đi bộ, giảm nhanh khi nghỉ ngơi.
Tắc nghẽn huyết khối của động mạch bị xơ vữa; đặc điểm lâm sàng giống thiếu máu cục bộ nguy cấp cấp tính Nguồn cung cấp động mạch không đủ ngay cả khi nghỉ ngơi, với tình trạng thiếu máu cục bộ tương đối ở tất cả các mô. Nguy cơ loét do tỳ đè. Quá trình liền thương bị suy giảm nghiêm trọng.

Chi bị thiếu máu cục bộ nguy cấp; nguy cơ hoại tử chi trong 6-8 giờ nếu không được tái tưới máu khẩn cấp.

Thiếu máu cục bộ nặng mạn tính – đau khi nghỉ ở bàn chân, tồi tệ hơn vào ban đêm. Khởi phát mạn tính trong nhiều tuần hoặc nhiều tháng. Da nhợt nhạt/đỏ/tím.

Thiếu máu cục bộ cấp trên nền mạn – khởi phát đột ngột (trong vòng 2 tuần) tình trạng thiếu máu cục bộ cấp tính ở người bệnh có tiền sử thiếu máu cục bộ mạn tính trước đó.

Thuyên tắc từ tim:

Hẹp van hai lá với huyết khối nhĩ trái; rung nhĩ; viêm nội tâm mạc; nhồi máu cơ tim (NMCT) gần đây.

Thuyên tắc từ phình động mạch chủ

Các khối huyết khối tách ra và kẹt lại tại các chỗ chia đôi động mạch, làm tắc nghẽn dòng chảy Thiếu máu cục bộ nặng cấp tính của chi trên hoặc chi dưới, não hoặc ruột
Đái tháo đường
‘Bàn chân đái tháo đường’ (được gọi không chính xác là bàn chân thần kinh-thiếu máu cục bộ vì mức độ bệnh lý thần kinh và/hoặc thiểu năng động mạch thay đổi, và chẩn đoán chính xác là rất quan trọng để xử trí nếu yếu tố sau chiếm ưu thế) Xơ vữa động mạch tiến triển nhanh và bệnh lý thần kinh. Mất cảm giác làm tăng nguy cơ chấn thương và loét, và không lành thương do thiếu máu cục bộ

Tổn thương thường biến chứng bởi nhiễm khuẩn sinh mủ

Tổn thương bàn chân (thường không đau) – loét sâu ở các vùng tỳ đè; hoại tử ngón chân.

Giả định thiếu máu cục bộ là do xơ vữa động mạch trừ khi bắt được mạch mu chân. Nhiễm trùng lan nhanh, với nguy cơ hoại tử đe dọa chi và nhiễm khuẩn huyết toàn thân. Cần điều trị sớm và tích cực.

Đáp ứng với nhiễm trùng bị suy giảm ở người bệnh đái tháo đường

Rối loạn tĩnh mạch
Huyết khối thuyên tắc

Huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) cấp tính

Có thể biến chứng bởi thuyên tắc phổi

Huyết khối tự phát ở các tĩnh mạch sâu vùng bắp chân hoặc đùi; có thể lan đến tĩnh mạch chậu-đùi.

Làm tắc nghẽn hồi lưu tĩnh mạch gây sưng và ấm. Nguy cơ hoại thư tĩnh mạch trong các trường hợp cực đoan, đòi hỏi điều trị sớm thường bằng tiêu sợi huyết

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ