Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Ngoại khoa Căn bản: Vấn đề, Chẩn đoán và Quản lý, Ấn bản thứ 7 (2026). CHƯƠNG 44. CÁC RỐI LOẠN VỀ TUYẾN VÚ

27 phút đọc

Ngoại khoa Căn bản: Vấn đề, Chẩn đoán và Quản lý, ấn bản thứ 7 (2026)
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 7th Edition
Biên tập viên chính: Clive R. G. Quick, Suzanne Biers, Tan Arulampalam, Philip J. Deakin
Dịch & Chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng – (C) 2026 Elsevier


CHƯƠNG 44. CÁC RỐI LOẠN VỀ TUYẾN VÚ

Disorders of the breast
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 44, 611-632


Giới thiệu về bệnh lý tuyến vú

Hầu như mọi phụ nữ khi có triệu chứng tại vú đều lo sợ mình mắc ung thư. Sự lo lắng này xuất phát từ nỗi sợ phải phẫu thuật, hóa trị và các hậu quả về thẩm mỹ, cũng như nỗi sợ tử vong; tình trạng này thường bị trầm trọng hóa bởi việc tìm kiếm thông tin trên mạng vốn thường gây hiểu lầm. Tuy nhiên, các chiến dịch y tế cộng đồng thành công và nhận thức cao hơn về căn bệnh này đã khuyến khích người bệnh đến khám sớm hơn, điều này kết hợp với các chương trình sàng lọc (xem Chương 6) đã làm tăng tỷ lệ phát hiện các ca ung thư ở giai đoạn sớm trên lâm sàng. Sự lo lắng có thể tăng lên do trải nghiệm của bạn bè hoặc người thân về ung thư vú hoặc một “chẩn đoán của người nổi tiếng” gần đây; vì lý do này, việc trấn an những người “khỏe mạnh nhưng lo lắng” là rất quan trọng. Các tác động tâm lý của phẫu thuật tuyến vú phải được nhóm điều trị cân nhắc, và các điều dưỡng (nurse) chăm sóc tuyến vú có thể cung cấp hỗ trợ tâm lý trong suốt quá trình thăm dò chẩn đoán và điều trị.

Tỷ lệ chuyển tuyến đến các phòng khám chuyên khoa vú đã tăng đáng kể trong thập kỷ qua vì những lý do nêu trên. Mặc dù những người được chuyển đến đều mang tâm lý lo sợ, nhưng tại Vương quốc Anh, dưới 10% số đó thực sự mắc ung thư. Số còn lại bao gồm các tình trạng tuyến vú lành tính và các trường hợp khác vẫn nằm trong giới hạn giải phẫu và sinh lý bình thường (Hộp 44.1), cũng như những người tìm kiếm lời khuyên về lo ngại tiền sử gia đình, đau vú, nhiễm trùng vú và các lo lắng về thẩm mỹ.

Hộp 44.1 Các loại bệnh lý tuyến vú có ý nghĩa ngoại khoa

  • Các khối u ác tính
    • Ung thư biểu mô ống tuyến (Ductal adenocarcinoma)
    • Ung thư biểu mô tiểu thùy (Lobular adenocarcinoma)
    • Sarcoma
    • Di căn từ các mô khác
  • Các tổn thương lành tính dạng u
    • U sợi tuyến (Fibroadenoma)
    • U nhú trong ống (Intraduct papilloma)
    • U mỡ (Lipoma)
  • Các đáp ứng sinh lý rối loạn của mô vú (bất thường của sự phát triển và thoái triển bình thường – ANDI)
    • Bệnh xơ nang tuyến vú (Fibroadenosis – còn được gọi là bệnh xơ nang, loạn sản vú lành tính và viêm vú mãn tính)
    • Nang tuyến vú
    • Giãn ống tuyến vú (Mammary duct ectasia)
  • Phản ứng viêm quanh ống mãn tính do ứ đọng dịch tiết ống tuyến
  • Nhiễm trùng
    • Viêm mô tế bào và áp xe vú
    • Áp xe dưới quầng vú trong giãn ống tuyến vú

Giải phẫu tuyến vú nữ

Tuyến vú nằm giữa khoảng gian sườn thứ hai và thứ sáu, với núm vú nằm ở vị trí khoanh da (dermatome) T4. Mô vú bao gồm 15–20 thùy chứa các tiểu thùy được liên kết bởi các ống nhỏ, các ống này hợp lại tạo thành các ống dẫn. Mô tuyến được nâng đỡ bởi mô sợi và mô mỡ kết nối bằng các dây chằng Astley Cooper (dây chằng treo vú) và nằm trên cơ ngực lớn và cơ ngực bé. Tuyến vú được cấp máu bởi các nhánh của động mạch nách và động mạch vú trong. Bạch huyết dẫn lưu đến các hạch nách, hạch thượng đòn và hạch vú trong. Dẫn lưu tĩnh mạch nhìn chung tương ứng với nguồn cấp động mạch: các tĩnh mạch bên dưới quầng vú tạo thành một vòng nối (vòng tĩnh mạch) cùng với các tĩnh mạch sâu hơn mang máu ra ngoại vi của tuyến. Từ đó, dòng máu tĩnh mạch chảy qua các tĩnh mạch ngực trong, ngực ngoài và các tĩnh mạch gian sườn trên. Ung thư vú có thể lan tràn qua các con đường tĩnh mạch này và cả qua đám rối tĩnh mạch đốt sống, vốn liên kết với các tĩnh mạch của thành ngực bằng các ống dẫn không có van.

Các triệu chứng và dấu hiệu của bệnh lý tuyến vú

Người bệnh (patient) có thể đến khám với các triệu chứng cơ năng và/hoặc dấu hiệu thực thể.

Hình 44.1 Triệu chứng và dấu hiệu bệnh lý tuyến vú (xem thêm Hình 44.3 và 44.4). Các hướng dẫn của Viện Y tế và Chăm sóc Quốc gia Vương quốc Anh (NICE) về chuyển tuyến khẩn cấp và không khẩn cấp được chỉ thị trên nền màu hồng. 

Những điểm đặc biệt khi khai thác tiền sử

Khai thác tiền sử chi tiết có thể cung cấp những manh mối quan trọng về bệnh lý của vấn đề tại vú. Tuổi tác làm thay đổi xác suất của các rối loạn tuyến vú khác nhau; đặc biệt, nguy cơ ác tính tăng lên theo tuổi.

Hình 44.2 Tỷ lệ mắc các rối loạn tuyến vú thường gặp theo độ tuổi. Biểu đồ cho thấy sự phân bố độ tuổi của: U sợi tuyến (đỉnh ở tuổi 20-30), Bệnh xơ nang tuyến vú (đỉnh ở tuổi 30-40), Bệnh xơ nang dạng nang (đỉnh ở tuổi 40-50) và Ung thư biểu mô (tăng dần theo tuổi, đỉnh cao sau 50 tuổi).

Một nửa số phụ nữ tử vong do ung thư vú ở Vương quốc Anh là trên 70 tuổi. Cần xác định thời gian diễn biến của các triệu chứng ngay từ đầu; ung thư thường phát triển chậm trong khi các nang có thể xuất hiện nhanh chóng, đôi khi gần như chỉ sau một đêm. Các tình trạng lành tính như bệnh xơ nang tuyến vú (fibroadenosis) và u sợi tuyến (fibroadenoma) có thể biểu hiện bằng các khối u thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt hoặc giảm kích thước kể từ khi được phát hiện lần đầu. Các nang cũng có khả năng gây đau và nhạy cảm đau nhiều hơn so với các tổn thương ác tính.

Giới tính nữ, tình trạng mãn kinh hoặc có tiền sử mắc các bệnh lý tuyến vú trước đó – đặc biệt là bệnh ác tính, nang hoặc thay đổi xơ nang – có thể là chỉ báo về bản chất của vấn đề hiện tại ở vú. Ngoài các đột biến gen dòng mầm có nguy cơ cao, yếu tố nguy cơ đơn lẻ lớn nhất đối với ung thư vú là tiền sử đã mắc bệnh này trước đó, bất kể bao lâu (nguy cơ 1% mỗi năm) – Hộp 44.2. Có một số bằng chứng cho thấy người bệnh mắc một số rối loạn tuyến vú lành tính nhất định có nguy cơ ung thư cao hơn; nếu các tình trạng này được xác nhận trên sinh thiết, người bệnh sẽ được đề nghị sàng lọc bổ sung. Nếu xác định là ung thư, điều quan trọng là phải thiết lập tình trạng mãn kinh của người bệnh vì điều này ảnh hưởng đến các quyết định điều trị trong tương lai. Nếu không rõ ràng, nồng độ estradiol có thể hữu ích.

Hộp 44.2 Các yếu tố nguy cơ gây ung thư vú

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ