Nội tiết học Bà mẹ – Thai Nhi và Sơ Sinh: Sinh Lý, Sinh Lý Bệnh và Xử Trí Lâm Sàng (Ấn bản thứ 2, 2026).
Dịch và Chú giải tiếng Việt: Ths.Bs. Lê Đình Sáng
Maternal-Fetal and Neonatal Endocrinology: Physiology, Pathophysiology, and Clinical Management, 2nd Edition
Imprint: Academic Press. Editors: Christopher S. Kovács, Cheri L. Deal.
Ấn bản tiếng Việt của cuốn sách này là một dự án phi lợi nhuận, được xuất bản duy nhất trên các website yhoclamsang.net và sachyhoc.com của THƯ VIỆN MEDIPHARM.
CHƯƠNG 10. VAI TRÒ SINH LÝ CỦA HỆ THỐNG RENIN ANGIOTENSIN ALDOSTERONE VÀ VASOPRESSIN TRONG THAI KỲ Ở NGƯỜI
Eugenie R. Lumbers. Trường Khoa học Y sinh và Dược khoa, Viện Nghiên cứu Y học Hunter, Hiệp hội Đại học Newcastle, New Lambton, NSW, Úc
The Physiological Roles of the Renin Angiotensin Aldosterone System and Vasopressin in Human Pregnancy
Maternal-Fetal and Neonatal Endocrinology, Chapter 10, 139-155
|
ĐIỂM NHẤN MẠNH LÂM SÀNG |
|---|
| Thai kỳ được đặc trưng bởi sự điều hòa tăng lên rõ rệt của hệ thống renin-angiotensin [renin-angiotensin systems] tuần hoàn và nội thận của người mẹ nhằm bù đắp lại những tác động của relaxin, estrogen và progesterone lên hệ tim mạch và thận.
Nồng độ estrogen tăng cao kích thích gan sản xuất angiotensinogen. Nồng độ angiotensinogen cao chịu trách nhiệm cho sự gia tăng nồng độ angiotensin II trong giai đoạn sớm của thai kỳ. Về sau, nồng độ renin trong huyết tương tăng vượt quá mức được đo trong giai đoạn hoàng thể của chu kỳ kinh nguyệt và nồng độ angiotensin II tiếp tục tăng cao hơn nữa. Tác dụng co mạch của angiotensin II, được trung gian thông qua sự tương tác của nó với thụ thể angiotensin II loại 1 (AT1R), bị suy giảm trong thai kỳ do sự điều hòa giảm [downregulation] của thụ thể này bởi angiotensin, và có thể do angiotensin II hoạt động qua thụ thể AT2R cùng với angiotensin-(1-7) (được tạo ra từ angiotensin II) có tác dụng giãn mạch. Hệ thống renin-angiotensin ở buồng trứng tham gia vào quá trình tạo nang trứng [folliculogenesis] và rụng trứng [ovulation]. Buồng trứng đóng góp vào nồng độ cao của prorenin được tìm thấy trong máu mẹ vào giai đoạn đầu thai kỳ. Hệ thống renin-angiotensin ở nhau thai và màng rụng [decidual] có thể thúc đẩy quá trình làm tổ [implantation] và tưới máu tử cung-nhau thai. Những thay đổi trong quá trình sản xuất các thành phần của các hệ thống renin-angiotensin này có thể góp phần làm suy yếu sự phát triển của nhau thai, gây tiền sản giật [preeclampsia] và sinh non [preterm birth]. |
10.1 Giới Thiệu
Cả hệ thống renin-angiotensin (RAS) tại mô và hệ thống renin-angiotensin tuần hoàn đều thiết yếu cho một kết cục thai kỳ bình thường. Mặc dù sự hoạt hóa mạnh mẽ của hệ thống renin-angiotensin-aldosterone tuần hoàn trong thai kỳ ở người đã được mô tả kỹ lưỡng, nhưng những vai trò quan trọng của hệ thống RAS ở buồng trứng, nhau thai và các hệ thống RAS nội tử cung khác đã bị bỏ qua, cũng như vai trò tiềm năng của một hệ thống RAS tại thận nằm bên trong các ống thận. Chương này mô tả sinh lý học của các hệ thống RAS này trong một thai kỳ bình thường. Bài viết cũng đề cập đến tình trạng tăng huyết áp đặc hiệu trong thai kỳ (tiền sản giật [preeclampsia]) vì dạng tăng huyết áp này có liên quan đến những thay đổi rõ rệt trong hệ thống RAAS tuần hoàn.
Thận và đường sinh sản có chung nguồn gốc phôi thai học, do đó không có gì ngạc nhiên khi các tế bào từ thận và tuyến sinh dục chia sẻ những đặc tính chức năng phân tử tương tự nhau. Các hệ thống renin-angiotensin hiện diện trong tất cả các cơ quan của phụ nữ tham gia vào quá trình thụ tinh trong, tức là đường sinh dục, buồng trứng và nhau thai.
Chương này được chia thành các phần sau:
- Các thành phần của hệ renin-angiotensin và các con đường tạo ra các peptide angiotensin
- Sự điều hòa và tác dụng của hệ thống RAAS tuần hoàn và hệ thống RAS nội thận trong thai kỳ
- Các hệ thống renin-angiotensin ở đường sinh sản.

Hình 10.1: Các thành phần của hệ thống renin-angiotensin (RAS) chịu trách nhiệm cho hoạt động của hệ thống RAS tuần hoàn và tại mô trong thai kỳ. (P)RR là thụ thể prorenin. Renin, hoặc prorenin gắn vào thụ thể prorenin, có thể phân cắt angiotensinogen (AGT) thành angiotensin I (ANG I). ANG I được chuyển đổi thành ANG II bởi một enzyme dipeptidyl carboxypeptidase, enzyme chuyển angiotensin (ACE). ANG II có thể tác động lên thụ thể phân nhóm loại 1 của ANG II (AT1R) hoặc thụ thể phân nhóm loại 2 (AT2R). Sự tương tác của ANG II với thụ thể AT2R của nó đối kháng lại các tác dụng của ANG II được trung gian qua thụ thể AT1R. ANG II có thể được chuyển đổi bởi aminopeptidase A (APA) thành ANG III, sau đó tiếp tục chuyển thành ANG IV. Ang IV tác động lên aminopeptidase được điều hòa bởi insulin (IRAP). ANG II được chuyển đổi bởi monopeptidyl carboxypeptidase ACE2 thành ANG-(1-7), peptide này tác động lên thụ thể bắt cặp protein G đặc hiệu của riêng nó (MasR) và có các tác dụng tương tự như tác dụng của ANG II qua trung gian AT2R. ANG II có thể được chuyển đổi bởi aspartate decarboxylase nguồn gốc từ bạch cầu đơn nhân (MLDAD) thành ANG A, sau đó có thể được chuyển đổi bởi ACE2 thành (Ala1)-ANG-(1-7). ANG-(1-7) cũng có thể được chuyển đổi bởi aspartic decarboxylase (AD) thành (Ala1)-ANG-(1-7) hay còn gọi là alamandine, chất này có thể tác động lên MasR cũng như lên thụ thể bắt cặp protein G liên quan đến thụ thể Mas thành viên D (mRG-D). Các peptide ANG thường có thể tương tác với các thụ thể ANG khác nhau.
10.2 Các Thành Phần Và Con Đường Của Hệ Thống Renin-Angiotensin Trong Việc Tạo Ra Các Peptide Angiotensin (ANG)
Hình 10.1 trình bày tổng quan về các con đường trong hệ thống renin-angiotensin (RAS) tạo ra các peptide angiotensin (ANG). Các peptide ANG tác động lên một số hệ thống ở nhiều loại mô khác nhau. Trong thai kỳ, chúng tham gia vào khả năng sinh sản, điều hòa chức năng tim mạch và thận, cũng như sự phát triển và hoàn thiện của các mô sinh sản.
Sự phức tạp của các con đường RAS và những khó khăn trong việc định lượng các protein và peptide cấu thành nên chúng có thể dẫn đến sự không nhất quán trong các giá trị được trích dẫn đối với các peptide tuần hoàn. Sự không nhất quán này có khả năng liên quan đến các kháng thể được sử dụng để định lượng các peptide hoặc hiệu quả bảo vệ các angiotensin khỏi các enzyme protease nội sinh bị thay đổi, hoặc cả hai.
10.2.1 Renin Và Prorenin
Trong khi hoạt động của hệ thống RAAS tuần hoàn được kiểm soát bởi nồng độ của renin hoạt động được giải phóng từ thận và angiotensinogen (AGT) được giải phóng từ gan, điều này không đúng với các hệ thống RAS khác ngoại trừ hệ thống renin-angiotensin nội thận (iRAS) của người mẹ, vì chỉ có thận mới tiết ra renin hoạt động. Ở tất cả các mô khác, chất được tiết ra là prorenin.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ