Nội tiết học Bà mẹ – Thai Nhi và Sơ Sinh: Sinh Lý, Sinh Lý Bệnh và Xử Trí Lâm Sàng (Ấn bản thứ 2, 2026).
Dịch và Chú giải tiếng Việt: Ths.Bs. Lê Đình Sáng
Maternal-Fetal and Neonatal Endocrinology: Physiology, Pathophysiology, and Clinical Management, 2nd Edition
Imprint: Academic Press. Editors: Christopher S. Kovács, Cheri L. Deal.
Ấn bản tiếng Việt của cuốn sách này là một dự án phi lợi nhuận, được xuất bản duy nhất trên các website yhoclamsang.net và sachyhoc.com của THƯ VIỆN MEDIPHARM.
CHƯƠNG 37: SỰ PHÁT TRIỂN VÀ CHỨC NĂNG CỦA BUỒNG TRỨNG VÀ TINH HOÀN Ở THAI NHI VÀ TRẺ SƠ SINH
Analía V. Freire1, María Gabriela Ropelato2 và Rodolfo A. Rey3
1Trung tâm Nghiên cứu Nội tiết “Dr. César Bergadá” (CEDIE), CONICET-FEI-Khoa Nội tiết, Bệnh viện Nhi đồng Ricardo Gutiérrez, Buenos Aires, Argentina; 2,3Khoa Mô học, Sinh học Tế bào, Phôi thai học và Di truyền học, Khoa Y, Đại học Buenos Aires, Buenos Aires, Argentina
|
CÁC THAY ĐỔI LÂM SÀNG CHÍNH |
|---|
| • Giới tính nhiễm sắc thể (chromosomal sex) của phôi thai được thiết lập tại thời điểm thụ tinh; tuy nhiên, phôi XX và XY phát triển các mầm lưỡng tiềm năng (bipotential primordia) chưa biệt hóa của tuyến sinh dục, xoang niệu dục (urogenital sinus) và cơ quan sinh dục ngoài, cũng như các ống Wolff và ống Müller đơn tiềm năng (unipotential) trong 6 tuần đầu của thai kỳ.
• Sự xác định giới tính (Sex determination), tức là sự cam kết phát triển của các gờ tuyến sinh dục (gonadal ridges) thành tinh hoàn hoặc buồng trứng, dựa vào một mạng lưới phức tạp của sự biểu hiện gen phụ thuộc nhiều vào sự hiện diện hoặc vắng mặt của sự biểu hiện gen SRY và xảy ra độc lập với các gonadotropin trong tuần thứ sáu. • Tinh hoàn tiết ra hormone chống ống Müller (anti-Müllerian hormone – AMH), chịu trách nhiệm cho sự thoái triển của các ống Müller, và các androgen, thúc đẩy sự nam hóa (virilization) của các ống Wolff, xoang niệu dục và cơ quan sinh dục ngoài. • Buồng trứng không có bất kỳ ảnh hưởng nào đến sự biệt hóa phôi thai của cơ quan sinh dục: khi không có mặt AMH, các ống Müller hình thành nên ống dẫn trứng, tử cung và phần trên âm đạo, trong khi sự thiếu hụt các androgen dẫn đến sự nữ hóa (feminization) của xoang niệu dục và cơ quan sinh dục ngoài. • Các gonadotropin của thai nhi điều hòa việc sản xuất hormone của tinh hoàn và buồng trứng trong ba tháng giữa và ba tháng cuối thai kỳ. Sau khi sinh, trục dưới đồi-tuyến yên-tuyến sinh dục hoạt động trong 3-6 tháng ở trẻ nam và lên đến 2 năm ở trẻ nữ, cho thấy sự dị hình giới tính (sexual dimorphism): nồng độ FSH cao hơn LH ở trẻ nữ, trong khi điều ngược lại xảy ra ở trẻ nam, và nồng độ AMH, inhibin B cùng testosterone rõ ràng cao hơn ở trẻ nam. |
Sự Biệt Hóa Giới Tính Của Hệ Sinh Sản
Sinh học phát triển giới tính có thể được tiếp cận ở nhiều cấp độ khác nhau: nhiễm sắc thể, di truyền, tuyến sinh dục và cơ quan sinh dục. Những đặc điểm này thường cho thấy sự dị hình giới tính (sexual dimorphism) rõ rệt. Trong chương này, chúng tôi sẽ đề cập đến các khía cạnh khác nhau của sự biệt hóa tuyến sinh dục và cơ quan sinh dục, điều này thiết lập nền tảng cho sự hiểu biết về cơ chế bệnh sinh, chẩn đoán và quản lý các rối loạn phát triển giới tính (disorders of sex development – DSD). Trọng tâm sẽ được đặt vào các con đường có ý nghĩa lâm sàng ở người, mặc dù phần lớn thông tin hiện có bắt nguồn từ các quan sát trên các loài động vật có vú thực nghiệm, đặc biệt là chuột.
Các cơ chế ban đầu chi phối sự xác định giới tính khác nhau giữa các loài: ví dụ ở bò sát, các yếu tố môi trường như nhiệt độ đóng vai trò quyết định đối với sự biệt hóa sớm của các tuyến sinh dục, trong khi ở chim và động vật có vú, các nhiễm sắc thể giới tính dị hình (heteromorphic sex chromosomes) quy định số phận của tuyến sinh dục. Giới tính nhiễm sắc thể của phôi thai được thiết lập ngay tại thời điểm thụ tinh (Hình 37.1), nhưng không có sự khác biệt rõ rệt nào giữa phôi XX và XY ở tuyến sinh dục hoặc đường sinh dục cho đến tuần thứ sáu. Sự phát triển của phôi thai và thai nhi bao gồm ba thời kỳ nối tiếp nhau: (i) giai đoạn chưa biệt hóa giới tính, đặc trưng bởi sự hình thành cơ quan của các mầm tuyến sinh dục và cơ quan sinh dục; (ii) sự biệt hóa của các tuyến sinh dục (hoặc sự xác định giới tính); và (iii) sự biệt hóa giới tính của cơ quan sinh dục trong và ngoài.


Hình 37.1: Giới tính nhiễm sắc thể, tuyến sinh dục và cơ quan sinh dục. Giới tính nhiễm sắc thể được xác định tại thời điểm thụ tinh bởi nhiễm sắc thể giới tính của tinh trùng. Sự biệt hóa giới tính tuyến sinh dục từ gờ tuyến sinh dục chưa biệt hóa diễn ra trong tuần thứ sáu; tinh hoàn sản xuất ra các androgen và hormone chống ống Müller (AMH), thúc đẩy sự biệt hóa giới tính cơ quan sinh dục trong ba tháng đầu thai kỳ. Buồng trứng không tiết ra các androgen và AMH trong ba tháng đầu thai kỳ. Sự biệt hóa cơ quan sinh dục phụ thuộc vào các hormone của tinh hoàn: AMH, do các tế bào Sertoli tiết ra, tác động lên thụ thể AMH (AMHR) gây ra sự thoái triển của ống Müller; khi không có tác động của AMH, các ống Müller hình thành nên ống dẫn trứng, tử cung và phần trên âm đạo. Các androgen, tác động lên thụ thể androgen (AR), gây ra sự biệt hóa của các ống Wolff thành mào tinh hoàn, ống dẫn tinh và túi tinh, cùng với sự nam hóa của xoang niệu dục và cơ quan sinh dục ngoài. Khi không có tác động của androgen, các ống Wolff thoái triển, còn xoang niệu dục và cơ quan sinh dục ngoài bị nữ hóa. (Nguồn: Sao chép có chỉnh sửa từ Rey RA, Racine C, Josso N. Sexual Differentiation. Trong: Feingold KR, Anawalt B, Blackman MR, Boyce A, Chrousos G, Corpas E, de Herder WW, Dhatariya K, Dungan K, Hofland J, Kalra S, Kaltsas G, Kapoor N, Koch C, Kopp P, Korbonits M, Kovacs CS, Kuohung W, Laferrere B, Levy M, McGee EA, McLachlan R, New M, Purnell J, Sahay R, Shah AS, Singer F, Sperling MA, Stratakis CA, Trence DL, Wilson DP, biên tập viên. Endotext [Internet]. South Dartmouth (MA): MDText.com, Inc.)
Sự biệt hóa giới tính phần lớn độc lập với các gonadotropin của tuyến yên thai nhi. Do đó, chúng tôi sẽ chỉ mô tả ngắn gọn về sự phát triển của vùng dưới đồi-tuyến yên, và trọng tâm chính sẽ được đặt vào các tuyến sinh dục và đường sinh sản.
Trục Dưới Đồi-Tuyến Yên-Tuyến Sinh Dục
Các tế bào thần kinh GnRH có nguồn gốc từ các tế bào biểu mô thần kinh hiện diện ở tấm khứu giác (olfactory placode) vào tuần thứ năm đến thứ sáu sau thụ thai. Chúng di chuyển gắn liền với dây thần kinh khứu giác tận cùng và đi vào não trước vào tuần thứ 6.5, đến vùng dưới đồi vào tuần thứ 9. Sự di chuyển của tế bào thần kinh GnRH được coi là hoàn tất giữa tuần thứ 13 và 16 của thai kỳ. Ngày càng có nhiều hiểu biết về số lượng các phân tử liên quan đến sự biệt hóa, sự tăng sinh/chết tế bào theo chương trình (proliferation/apoptosis) và sự di chuyển của các tế bào thần kinh GnRH. Sự đột biến của chúng dẫn đến chứng suy tuyến sinh dục trung ương bẩm sinh (congenital central hypogonadism) thường liên quan đến chứng giảm khứu giác (hyposmia), một tình trạng được gọi là hội chứng Kallmann.
Tuyến yên có hai nguồn gốc phôi thai: tuyến yên trước (adenohypophysis) bắt nguồn từ túi Rathke, một phần lõm vào của ngoại bì miệng (oral ectoderm), trong khi tuyến yên sau (neurohypophysis) bắt nguồn từ gian não (diencephalon). Sự phát triển của tuyến yên trước bao gồm một trình tự không gian và thời gian phối hợp cuối cùng tạo ra năm quần thể tế bào tuyến yên riêng biệt: tế bào hướng somatostatin, tế bào hướng giáp, tế bào hướng prolactin, tế bào hướng sinh dục và tế bào hướng vỏ thượng thận.
Tế bào hướng sinh dục (gonadotroph) có khả năng đáp ứng với GnRH từ tuần 11, khi hệ thống cửa để vận chuyển các hormone giải phóng từ vùng dưới đồi được thiết lập. Hàm lượng LH và FSH trong tuyến yên đạt mức tối đa vào khoảng tuần 25 đến 29 của đời sống thai nhi. Sau đó hoạt động của tuyến yên giảm xuống, do đó khi gần sinh, nồng độ gonadotropin thấp hơn so với ba tháng giữa thai kỳ. Các gonadotropin của tuyến yên thai nhi có vai trò điều hòa chức năng tuyến sinh dục trong ba tháng giữa và ba tháng cuối thai kỳ; trong ba tháng đầu thai kỳ, hCG của nhau thai là chất điều hòa chính đối với chức năng tuyến sinh dục của thai nhi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ