PHẪU THUẬT TUYẾN GIÁP VÀ TUYẾN CẬN GIÁP, ẤN BẢN THỨ 3
Chủ biên: Gregory W. Randolph MD FACS FACE – Nhà xuất bản Elsevier (2022)
Dịch và chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng
Bản dịch vì mục đích phi lợi nhuận. Xuất bản trực tuyến duy nhất trên các website sachyhoc.com và yhoclamsang.net của THƯ VIỆN MEDIPHARM
CHƯƠNG 17. TỶ LỆ MẮC MỚI UNG THƯ TUYẾN GIÁP BIỆT HÓA
Differentiated Thyroid Cancer Incidence
Quinn Dunlap; Louise Davies
Surgery of the Thyroid and Parathyroid Glands, 17, 174-180
Vui lòng truy cập ebooks.health.elsevier.com để xem video liên quan: Video 17.1 Giới thiệu Chương 17, Tỷ lệ mắc mới Ung thư Tuyến giáp Biệt hóa.
TỶ LỆ MẮC MỚI CỦA UNG THƯ TUYẾN GIÁP BIỆT HÓA
Giới thiệu
Ung thư biểu mô tuyến giáp biệt hóa (Differentiated Thyroid Carcinoma – DTC) là thuật ngữ bao trùm tất cả các bệnh ác tính phát sinh từ các tế bào nang biểu mô tuyến giáp và là dạng chính của ung thư biểu mô tuyến giáp, chiếm hơn 90% tổng số các bệnh lý ác tính tại tuyến giáp. Nhóm bệnh chính này bao gồm ba loại: Ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú (Papillary Thyroid Carcinoma – PTC), chiếm 80% đến 85% tổng số các bệnh ác tính tuyến giáp; Ung thư biểu mô tuyến giáp thể nang (Follicular Thyroid Carcinoma – FTC), chiếm 10% đến 15%; và Ung thư biểu mô tế bào Hurthle (Hurthle Cell Carcinoma), chiếm 3-4%. Tỷ lệ của từng loại thay đổi tùy theo quốc gia, và các tỷ lệ này chịu ảnh hưởng bởi thực hành chẩn đoán cũng như tình trạng đủ i-ốt (Iodine sufficiency). Nhìn chung, ung thư tuyến giáp thể nhú có tiên lượng từ tốt đến xuất sắc và tỷ lệ sống thêm 10 năm thường cao (90% đến 99%); tỷ lệ sống thêm tương ứng đối với ung thư tuyến giáp thể nang thấp hơn, dao động từ 55% đến 70%, và tỷ lệ này đối với ung thư biểu mô tế bào Hurthle là khoảng 75%.
PTC có một số biến thể mô học (Histologic variants) quan trọng: cổ điển (Classic), thể nang bao gồm loại có vỏ bao và không vỏ bao (Follicular – encapsulated and nonencapsulated), xơ cứng lan tỏa (Diffuse sclerosing), tế bào cao/tế bào trụ (Tall cell/Columnar cell), thể đặc (Solid), thể bè (Trabecular), và thể tế bào ưa toan (Oncocytic); mỗi biến thể có mức độ xâm lấn và tiên lượng khác nhau. PTC có khả năng mở rộng ra ngoài tuyến giáp (Extrathyroidal Extension – ETE) và có thể xâm lấn các tạng lân cận (thần kinh thanh quản quặt ngược, thanh quản, thực quản). Bệnh di căn qua hệ bạch huyết đến các hạch bạch huyết vùng cổ (khoang trung tâm và khoang bên). Ung thư tuyến giáp thể nang, với phạm vi xâm lấn rộng, ít đa dạng hơn (3% tổng số ung thư biểu mô tuyến giáp). Bệnh lan truyền qua đường máu (Hematogenous spread) và biểu hiện tần suất di căn xa tăng lên trong khi tỷ lệ di căn hạch cổ giảm xuống so với PTC. Ngoài ra, do tính chất vỏ bao của khối u, bác sĩ chỉ có thể chẩn đoán xác định FTC thông qua sinh thiết trọn u (Excisional biopsy), trái ngược với chọc hút bằng kim nhỏ (Fine Needle Aspiration – FNA) đối với PTC. Tế bào Hurthle trước đây được xem là một biến thể, nhưng nghiên cứu kiểu gen gần đây cho thấy đây là một thực thể bệnh học riêng biệt.
Ung thư tuyến giáp là loại ung thư nội tiết phổ biến nhất, chiếm khoảng 2,1% tổng số chẩn đoán ung thư trên toàn thế giới. Bệnh chiếm 3,8% các ca ung thư mới được chẩn đoán tại Hoa Kỳ vào năm 2014, trở thành bệnh ác tính phổ biến thứ chín về tỷ lệ mắc mới chung. Tỷ lệ mắc mới (Incidence) của DTC đã tăng gấp ba lần trong giai đoạn từ những năm 1990 đến những năm 2010 tại Hoa Kỳ, với xu hướng tương tự được ghi nhận trên phạm vi quốc tế. Tiếp theo, chúng tôi sẽ mô tả quy mô của sự gia tăng này, các cơ chế nguyên nhân tiềm năng, và các chiến lược đã được thực hiện để giải quyết vấn đề.
TỔNG QUAN VỀ TỶ LỆ MẮC MỚI HIỆN TẠI
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ