PHẪU THUẬT TUYẾN GIÁP VÀ TUYẾN CẬN GIÁP, ẤN BẢN THỨ 3
Chủ biên: Gregory W. Randolph MD FACS FACE – Nhà xuất bản Elsevier (2022)
Dịch và chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng
Bản dịch vì mục đích phi lợi nhuận. Xuất bản trực tuyến duy nhất trên các website sachyhoc.com và yhoclamsang.net của THƯ VIỆN MEDIPHARM
CHƯƠNG 18: CƠ CHẾ BỆNH SINH CẤP ĐỘ PHÂN TỬ CỦA CÁC KHỐI U TUYẾN GIÁP
Molecular Pathogenesis of Thyroid Neoplasia
Matthew D. Ringel; Thomas J. Giordano
Surgery of the Thyroid and Parathyroid Glands, 18, 181-185
GIỚI THIỆU
Trong thập kỷ qua, kiến thức về cơ chế bệnh sinh cấp độ phân tử (molecular pathogenesis) của các khối u tuyến giáp đã phát triển vượt bậc. Song song đó là những tiến bộ lớn trong việc ứng dụng lâm sàng những kiến thức này nhằm nâng cao các phương pháp chẩn đoán đối với nhân tuyến giáp (thyroid nodules), cũng như cung cấp thông tin nền tảng cho các thử nghiệm lâm sàng và phương pháp điều trị cho bệnh nhân mắc bệnh tiến triển. Điều này bao gồm không chỉ hệ gen soma (somatic genomics – tức là các thay đổi di truyền chỉ tìm thấy trong tế bào khối u) mà cả hệ gen nhạy cảm dòng mầm (germline predisposing genomics – tức là các biến đổi di truyền được thừa hưởng trong tất cả các tế bào). Trong chương này, chúng tôi sẽ tập trung vào các thay đổi hệ gen hiện đang được sử dụng trong thực hành lâm sàng và/hoặc các thử nghiệm lâm sàng để cải thiện chẩn đoán trước phẫu thuật, dự báo hành vi sinh học của ung thư, và/hoặc xác định các lựa chọn điều trị hay việc tham gia thử nghiệm lâm sàng cho bệnh nhân đã xác định mắc ung thư tuyến giáp.
DỊCH TỄ HỌC UNG THƯ TUYẾN GIÁP
Tỷ lệ mắc ung thư biểu mô tuyến giáp (thyroid carcinoma) đang gia tăng trên toàn thế giới (xem Chương 17, Tỷ lệ mắc mới Ung thư Tuyến giáp Biệt hóa). Hiện nay tại Hoa Kỳ, ung thư tuyến giáp là loại ung thư phổ biến thứ năm ở phụ nữ và thứ 11 ở nam giới. Nó chiếm khoảng 95% các bệnh ác tính của các cơ quan nội tiết kinh điển. Một điều đáng quan tâm là trong số tất cả các ung thư của cơ quan không thuộc hệ sinh sản, tỷ lệ mắc ung thư giữa nữ:nam là 3:1, mức cao nhất được ghi nhận. Không còn nghi ngờ gì nữa, sự gia tăng đáng kể tỷ lệ ung thư tuyến giáp bắt đầu từ đầu những năm 2000 phản ánh sự gia tăng giám sát y tế, việc sử dụng siêu âm (Ultrasound) tuyến giáp và sự phát triển của công nghệ chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (Fine-Needle Aspiration – FNA) dưới hướng dẫn của siêu âm. Bằng chứng cho điều này bao gồm sự gia tăng nhanh chóng trong chẩn đoán các ung thư tuyến giáp thể nhú kích thước nhỏ tại Hoa Kỳ và dữ liệu từ Hàn Quốc, nơi tỷ lệ mắc mới (Incidence) ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú (Papillary Thyroid Carcinoma – PTC) được chẩn đoán đã trở nên tương tự như số liệu trong các nghiên cứu tử thi, do việc bao phủ siêu âm tuyến giáp rộng rãi hơn trong sàng lọc ung thư.
Thú vị là, với những dữ liệu mới nổi này, cùng bằng chứng cho thấy nhiều bệnh nhân mắc PTC nhỏ có thể được theo dõi chủ động (Active surveillance) một cách an toàn trong nhiều thập kỷ, và kết quả là sự chú trọng ngày càng tăng vào việc xác định các PTC lớn hơn trong các hướng dẫn lâm sàng, tỷ lệ mắc ung thư tuyến giáp được chẩn đoán đã “chững lại”, hoặc thậm chí giảm trong vài năm qua. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là trong khi tỷ lệ phần trăm cá nhân được chẩn đoán mắc ung thư tuyến giáp lớn hơn hoặc đã tử vong do ung thư tuyến giáp vẫn ổn định hoặc giảm, thì số lượng tuyệt đối các cá nhân mắc ung thư lớn hoặc tử vong vì bệnh đang gia tăng. Lý do cho điều này vẫn chưa rõ ràng. Nó vẫn có thể một phần do sự gia tăng phát hiện nhưng cũng có thể phản ánh sự gia tăng do các yếu tố khác như phơi nhiễm môi trường hoặc trôi dạt di truyền (genetic drift) trong quần thể. Tổng hợp lại, những dữ liệu này làm nổi bật nhu cầu về các chỉ dấu sinh học (biomarkers) bổ sung để phân định tốt hơn những bệnh nhân có khả năng mắc ung thư tuyến giáp tiến triển chậm (indolent) so với những người có khả năng mang bệnh tích cực hơn, nhằm tránh điều trị quá mức và cũng để giảm thiểu hậu quả của việc điều trị không đầy đủ.
BỆNH HỌC
Từ góc độ lâm sàng, tuyến giáp bao gồm hai quần thể tế bào sản xuất hormone: (1) tế bào nang (follicular cells) sản xuất hormone tuyến giáp từ khung thyroglobulin và (2) tế bào cận nang (parafollicular cells hay tế bào C) đại diện cho một quần thể nhỏ các tế bào thần kinh nội tiết sản xuất calcitonin và kháng nguyên carcinoembryonic (CEA) (xem Chương 2, Phôi thai học Ứng dụng của Tuyến giáp và Tuyến cận Giáp). Hai quần thể tế bào này có khả năng bắt nguồn từ cùng một tế bào tiền thân nội bì, một đặc điểm phát triển tuyến giáp chỉ mới được khám phá gần đây. Mặc dù các khối u hỗn hợp hiếm gặp có thể sản xuất cả thyroglobulin và calcitonin, đại đa số ung thư tuyến giáp bắt nguồn rõ ràng từ một trong hai loại tế bào (được gọi là ung thư tuyến giáp nguồn gốc tế bào nang) hoặc ung thư tuyến giáp thể tủy (Medullary Thyroid Cancers). Các ung thư bắt nguồn từ tế bào nang chiếm khoảng 95% các trường hợp ung thư tuyến giáp và có thể được chia thành các phân nhóm dựa trên đặc điểm mô bệnh học.
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ