PHẪU THUẬT TUYẾN GIÁP VÀ TUYẾN CẬN GIÁP, ẤN BẢN THỨ 3
Chủ biên: Gregory W. Randolph MD FACS FACE – Nhà xuất bản Elsevier (2022)
Dịch và chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng
Bản dịch vì mục đích phi lợi nhuận. Xuất bản trực tuyến duy nhất trên các website sachyhoc.com và yhoclamsang.net của THƯ VIỆN MEDIPHARM
CHƯƠNG 2: ỨNG DỤNG PHÔI THAI HỌC CỦA TUYẾN GIÁP VÀ TUYẾN CẬN GIÁP
Applied Embryology of the Thyroid and Parathyroid Glands
Roma Pradhan; Amit Agarwal; Celestino P. Lombardi; Marco Raffaelli
Surgery of the Thyroid and Parathyroid Glands, 2, 15-15
Phẫu thuật viên chuyên khoa nội tiết hoặc tuyến giáp hiện đại cần phải có sự hiểu biết trọn vẹn về quá trình phát triển phôi thai của tuyến giáp và tuyến cận giáp, cũng như kiến thức về các bất thường bẩm sinh có thể xảy ra liên quan đến các tuyến này, bởi vì chúng có thể ảnh hưởng đến mức độ hoàn thiện của phẫu thuật và gây ra các biến chứng trong quá trình mổ. Phẫu thuật viên sẽ đạt được sự thấu hiểu trực quan hơn về giải phẫu phẫu thuật thông qua việc đánh giá toàn diện về phôi thai học hình thành nền tảng bên dưới.
TUYẾN GIÁP
Sự Phát Triển Bình Thường Của Tuyến Giáp
Tuyến giáp có nguồn gốc kép: hầu nguyên thủy (primitive pharynx) và mào thần kinh (neural crest) (Hình 2.1). Hầu nguyên thủy chịu trách nhiệm cho nguồn gốc của mầm tuyến giáp giữa (medial thyroid anlage), trong khi mầm tuyến giáp bên (lateral thyroid anlage) bắt nguồn từ mào thần kinh, là nguồn gốc của các tế bào cận nang (parafollicular cells), hay tế bào C, có chức năng bài tiết calcitonin. Các tế bào này bắt nguồn từ các thể mang cuối (ultimobranchial bodies). Sự hiểu biết về nguồn gốc thể mang cuối của tế bào C đến từ các nghiên cứu trên bệnh nhân mắc hội chứng DiGeorge, hội chứng này gây ra sự vắng mặt hoàn toàn hoặc một phần của phức hợp túi họng đuôi (caudal pharyngeal complex). Ít hơn một phần ba số bệnh nhân này có tế bào C trong tuyến giáp của họ.

Hình 2.1: Hình ảnh sơ đồ hầu họng nguyên thủy của phôi thai 8 đến 10 mm.
Hầu nguyên thủy là nguồn gốc của phần trung tâm chính của tuyến giáp, xuất hiện trong tuần thứ hai và thứ ba của đời sống bào thai (Hình 2.2). Mầm tuyến giáp giữa này phát sinh trên thành bụng của hầu (củ lẻ – tuberculum impar) ở mức cung mang thứ hai (second branchial arch), xuất hiện dưới dạng một túi thừa đơn hoặc đôi. Mầm giữa hình thành nên khối lượng lớn của tuyến giáp. Việc phân chia tuyến thành các thùy bên, nếu không hiện diện ngay từ đầu, thì cũng xảy ra rất sớm đến mức không thể xác định liệu tuyến giáp phát sinh đơn lẻ hay là một cơ quan đôi. Cuống giữa thường có một lòng ống (ống giáp lưỡi – thyroglossal duct) không mở rộng vào các thùy bên. Túi thừa này đi theo tim nguyên thủy khi tim di chuyển xuống phía đuôi. Nó trở thành một dây tế bào đặc sẽ hình thành nên các thành phần nang. Sau đó, nó vỡ làm hai: phần gần co lại và biến mất; tuy nhiên, sự kết nối với hầu của nó để lại một hố vĩnh viễn, lỗ tịt (foramen cecum) tại đỉnh của rãnh tận cùng hình chữ V (V-shaped sulcus terminalis) trên lưng lưỡi. Đầu tuần thứ năm, ống dẫn mỏng dần mất đi lòng ống và ngay sau đó vỡ thành các mảnh. Đầu phía đuôi phát triển thành tuyến giáp hai thùy có vỏ bao, đạt đến vị trí giải phẫu bình thường ở người trưởng thành tại mức khí quản đang phát triển vào tuần thứ bảy, và trải qua quá trình biệt hóa mô học thành các nang điển hình trong tuần thứ 10 và 11, các nang này bắt đầu chứa chất keo (colloid) vào tháng thứ ba.
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ