PHẪU THUẬT TUYẾN GIÁP VÀ TUYẾN CẬN GIÁP, ẤN BẢN THỨ 3
Chủ biên: Gregory W. Randolph MD FACS FACE – Nhà xuất bản Elsevier (2022)
Dịch và chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng
Bản dịch vì mục đích phi lợi nhuận. Xuất bản trực tuyến duy nhất trên các website sachyhoc.com và yhoclamsang.net của THƯ VIỆN MEDIPHARM
CHƯƠNG 29: UNG THƯ TUYẾN GIÁP NHI KHOA
Pediatric Thyroid Cancer
Gillian Diercks; Andrew J. Bauer; Jeff Rastatter; Ken Kazahaya; Sanjay Parikh
Surgery of the Thyroid and Parathyroid Glands, 29, 255-263
GIỚI THIỆU
Tương tự như nhiều bệnh lý thời thơ ấu khác, chẩn đoán và điều trị ung thư tuyến giáp ở bệnh nhân nhi có những khác biệt lớn so với người lớn. Chương này sẽ làm nổi bật những khác biệt đó và xem xét các phương pháp tiếp cận hiện tại về nguyên nhân, chẩn đoán và điều trị ung thư tuyến giáp nhi khoa. Ung thư tuyến giáp chiếm khoảng 1% đến 3% tổng số các bệnh lý ác tính (Malignancies) ở trẻ em và 7% tổng số các khối u vùng đầu cổ ở trẻ em. Mặc dù bệnh lý ác tính tuyến giáp ở trẻ em ít phổ biến hơn so với người lớn, các báo cáo vẫn ghi nhận sự gia tăng số lượng chẩn đoán ung thư tuyến giáp hàng năm tương tự ở trẻ em, với mức tăng từ 2% đến 3,8% mỗi năm theo cơ sở dữ liệu của Chương trình Giám sát, Dịch tễ học và Kết quả cuối cùng (SEER – Surveillance, Epidemiology, and End Results). Mức tăng lớn nhất được ghi nhận ở bệnh nhân nữ từ 15 đến 19 tuổi, lứa tuổi mà ung thư tuyến giáp chiếm 8% trong tất cả các loại ung thư. Hơn 85% ung thư biểu mô tuyến giáp ở trẻ em là ung thư tuyến giáp thể nhú (Papillary Thyroid Cancer – PTC), phần còn lại bao gồm ung thư tuyến giáp thể nang (Follicular Thyroid Cancer – FTC) và ung thư tuyến giáp thể tủy (Medullary Thyroid Cancer – MTC); trong đó đa số các trường hợp MTC có liên quan đến hội chứng đa u tuyến nội tiết loại 2 (MEN 2 – Multiple Endocrine Neoplasia type 2).
NGUYÊN NHÂN
Đối với đa số trẻ em và thanh thiếu niên được chẩn đoán mắc ung thư tuyến giáp hoặc nhân tuyến giáp (Thyroid Nodules), không có yếu tố nguy cơ nào được xác định rõ ràng. Tuy nhiên, một nhóm bệnh nhân nhi có nguy cơ cao phát triển ung thư tuyến giáp bao gồm những trẻ có tiền sử phơi nhiễm với bức xạ ion hóa (Ionizing Radiation) và những trẻ có khuynh hướng di truyền (Genetic Predisposition). Khuynh hướng di truyền có thể biểu hiện dưới dạng tiền sử gia đình mắc ung thư tuyến giáp biệt hóa (Differentiated Thyroid Cancer – DTC) đơn độc (hay còn gọi là ung thư tuyến giáp thể không tủy gia đình) hoặc các đột biến mới khởi phát (De novo) hay đột biến di truyền ở các gen sinh ung thư (Oncogenes) làm tăng nguy cơ phát triển bệnh ác tính tuyến giáp.
Mối liên quan giữa ung thư tuyến giáp và phơi nhiễm bức xạ trước đó đã được xác định rõ và ghi nhận trong nhiều thập kỷ. Các quan sát ban đầu về mối liên quan này được thực hiện trên những bệnh nhân được xạ trị để điều trị các bệnh lý lành tính, chẳng hạn như phì đại amidan, tăng sản tuyến ức, mụn trứng cá và nấm da đầu. Việc phát triển và sử dụng vũ khí hạt nhân dẫn đến sự hiểu biết sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa phơi nhiễm bức xạ và sự phát triển của ung thư tuyến giáp, sau khi quan sát thấy tỷ lệ mắc ung thư tuyến giáp gia tăng ở những cư dân tiếp xúc với bụi phóng xạ sau các vụ thử bom nguyên tử và những người sống sót sau các cuộc tấn công hạt nhân ở Hiroshima và Nagasaki, Nhật Bản. Đến năm 1954, các nhà máy điện hạt nhân sản xuất năng lượng thương mại đã đi vào hoạt động. Tính đến năm 2017, thế giới có hơn 450 nhà máy điện hạt nhân đang hoạt động, và may mắn thay, chỉ có ba sự cố lớn (nóng chảy hạt nhân) xảy ra tính đến năm 2018: Three Mile Island tại Hoa Kỳ (1979), Chernobyl tại Ukraine (1986), và Fukushima Daiichi tại Nhật Bản (2011). Mỗi tai nạn đều mang lại những bài học quý giá, nhưng Chernobyl nổi bật vì cung cấp dữ liệu đầy đủ nhất về nguy cơ của I-ốt 131 (I-131) hít phải và nuốt phải đối với sự phát triển của ung thư tuyến giáp ở bệnh nhân nhi, khi tỷ lệ mắc ung thư tuyến giáp tăng hơn 60 lần trong quần thể dân cư của cả Belarus và Ukraine. Nhóm bệnh nhân nhi ban đầu phát triển PTC sau thảm họa Chernobyl có biểu hiện lâm sàng trong vòng 5 năm kể từ khi xảy ra tai nạn và bệnh thường ở giai đoạn tiến triển, với di căn hạch vùng (Lymph Node – LN) ở 60% bệnh nhân và di căn phổi ở 24% bệnh nhân; 50% khối u có biểu hiện xâm lấn ra ngoài tuyến giáp (Extrathyroidal Extension).
Phơi nhiễm y tế với bức xạ ion hóa cũng liên quan đến việc tăng nguy cơ ung thư tuyến giáp và có thể xảy ra trong quá trình chẩn đoán hình ảnh, cũng như là một phần của phác đồ điều trị cho các bệnh ác tính không phải tuyến giáp. Trong các phương thức chẩn đoán hình ảnh khác nhau, việc gia tăng sử dụng chụp cắt lớp vi tính (Computed Tomography – CT) được cho là chiếm tới 47% liều tích lũy hiệu dụng (Collective Effective Dose) của phơi nhiễm bức xạ từ chẩn đoán hình ảnh trên toàn thế giới. Mặc dù mức phơi nhiễm bức xạ do một lần chụp CT là thấp, và mức phơi nhiễm này còn được giảm thêm nhờ các quy trình dành riêng cho trẻ em, nhưng phơi nhiễm tích lũy từ việc chụp CT nhiều lần có thể góp phần làm tăng nguy cơ mắc nhân tuyến giáp và ung thư tuyến giáp, đặc biệt là ở bệnh nhân nhi do hoạt động tăng sinh tế bào mạnh mẽ hơn trong thời thơ ấu.
Ở những người sống sót sau ung thư thời thơ ấu đã được điều trị bằng xạ trị (Radiation Therapy – RT), nhân tuyến giáp phát triển với tỷ lệ khoảng 2% mỗi năm, đạt tỷ lệ mắc cao nhất từ 15 đến 25 năm sau khi điều trị. Khoảng 20% những người sống sót sau ung thư nhi khoa lâu dài sẽ có một nhân giáp lớn hơn 1 cm được phát hiện bằng siêu âm (Ultrasound – US) mà không biểu hiện lâm sàng khi chỉ thăm khám thực thể (Physical Examination) đơn thuần. Nguy cơ này cao nhất khi xạ trị ở độ tuổi nhỏ (dưới 10 tuổi) và với liều lượng lên tới 20 đến 29 Gy. Nhìn chung, tỷ số tỷ lệ mắc chuẩn hóa (Standardized Incidence Ratio) đối với ung thư tuyến giáp biệt hóa (DTC) do bức xạ dao động từ 5 đến 70 lần, trong đó độ tuổi càng nhỏ và liều lượng phơi nhiễm càng cao thì nguy cơ càng lớn.
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ