Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

PHẪU THUẬT TUYẾN GIÁP VÀ TUYẾN CẬN GIÁP, ẤN BẢN THỨ 3. CHƯƠNG 31. CÁC NGUYÊN LÝ TRONG PHẪU THUẬT TUYẾN GIÁP

88 phút đọc

PHẪU THUẬT TUYẾN GIÁP VÀ TUYẾN CẬN GIÁP, ẤN BẢN THỨ 3
Chủ biên: Gregory W. Randolph MD FACS FACE – Nhà xuất bản Elsevier (2022)
Dịch và chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng 
Bản dịch vì mục đích phi lợi nhuận. Xuất bản trực tuyến duy nhất trên các website sachyhoc.com và yhoclamsang.net của THƯ VIỆN MEDIPHARM


CHƯƠNG 31. CÁC NGUYÊN LÝ TRONG PHẪU THUẬT TUYẾN GIÁP

Principles in Thyroid Surgery
Whitney Liddy; Juliana Bonilla-Velez; Frédéric Triponez; Dipti Kamani; Gregory Randolph
Surgery of the Thyroid and Parathyroid Glands, 31, 272-293


  • Video 31.1: Các Thao Tác Phẫu Thuật Tuyến Giáp Cơ Bản (Basic Thyroid Surgical Maneuvers).
  • Video 31.2: Phẫu Thuật Ung Thư Tuyến Giáp Nâng Cao (Advanced Thyroid Cancer Surgery).
  • Video 31.3: Cắt Toàn Bộ Tuyến Giáp: Huỳnh Quang Tự Thân và Chụp Mạch Tuyến Cận Giáp (Total Thyroidectomy: Autofluorescence and Parathyroid Angiography).

Vui lòng truy cập ebooks.health.elsevier.com để xem các video liên quan:

GIỚI THIỆU

Có nhiều chương trong cuốn sách này đề cập đến các phương pháp tiếp cận phẫu thuật tuyến giáp cụ thể, từ xâm lấn tối thiểu đến các đường tiếp cận ngoài cổ (extracervical), phẫu thuật robot và phẫu thuật nội soi qua đường miệng (transoral approaches) (xem Chương 32, Các Tiếp Cận Robot và Ngoài Cổ vào Tuyến Giáp và Tuyến Cận Giáp; Chương 33, Cắt Tuyến Giáp Qua Đường Miệng; và Chương 34, Cắt Tuyến Giáp Nội Soi Hỗ Trợ Xâm Lấn Tối Thiểu). Trong chương này, chúng tôi sẽ xem xét thời điểm thực hiện phẫu thuật tuyến giáp, phạm vi phẫu thuật được khuyến nghị, cũng như các nguyên tắc kỹ thuật cơ bản trong phẫu thuật tuyến giáp tiêu chuẩn (standard thyroid surgery); các nguyên tắc này, ở một mức độ nào đó, có thể áp dụng cho tất cả các hình thái phẫu thuật tuyến giáp. Phẫu thuật mở tuyến giáp tiêu chuẩn có thể được coi là điểm khởi đầu cơ bản cho tất cả các phẫu thuật viên tuyến giáp; sự am hiểu các nguyên tắc giải phẫu phẫu thuật này là bước đầu tiên thiết yếu cho các phương pháp phẫu thuật khác ít thường quy hơn.

PHẠM VI PHẪU THUẬT CẮT TUYẾN GIÁP

Mặc dù chọc hút kim nhỏ (FNA – Fine-Needle Aspiration) là thủ thuật được lựa chọn để đánh giá các nhân tuyến giáp có chỉ định lâm sàng, còn có các thông số lâm sàng khác ngoài tế bào học có thể ảnh hưởng đến quyết định phẫu thuật và phạm vi cắt tuyến giáp (extent of a thyroidectomy); bao gồm tuổi (nguy cơ ác tính cao hơn ở nhóm < 20 và > 60 tuổi), giới tính bệnh nhân (nam giới tăng nguy cơ ác tính), tiền sử gia đình có các hội chứng ung thư tuyến giáp ác tính như ung thư biểu mô dạng nhú gia đình (familial papillary carcinoma), hội chứng Cowden, đa u tuyến nội tiết (MEN – Multiple Endocrine Neoplasia) loại 2A hoặc 2B, tiền sử bản thân phơi nhiễm với bức xạ ion hóa (đặc biệt là khi còn nhỏ), và tiền sử khối u tuyến giáp phát triển nhanh.

Khi khám thực thể (Physical Examination), kích thước, độ chắc và sự cố định của nhân giáp là những đặc điểm quan trọng cần lưu ý cũng như tình trạng khàn tiếng. Đặc biệt quan trọng và có giá trị dự báo ác tính là các dấu hiệu liệt dây thanh (VCP – Vocal Cord Paralysis) và bệnh hạch bạch huyết (lymphadenopathy). Nồng độ hormone kích thích tuyến giáp (TSH) tăng cao có liên quan đến nguy cơ ác tính cao hơn ở nhân tuyến giáp cũng như giai đoạn ung thư tiến xa hơn. Một số dấu hiệu siêu âm cũng làm tăng nguy cơ ác tính, chẳng hạn như cấu trúc đặc giảm âm (solid hypoechogenicity), bờ không đều, vi vôi hóa (microcalcification), vôi hóa viền (rim calcifications) (đặc biệt nếu bị gián đoạn với sự xâm lấn ra mô mềm), tăng sinh mạch trung tâm, hình thái chiều cao lớn hơn chiều rộng (taller than wide), xâm lấn ra ngoài tuyến giáp (ETE – Extrathyroidal Extension), và tăng độ cứng trên siêu âm đàn hồi mô. Nhân tuyến giáp có tăng hấp thu khu trú trên chụp cắt lớp phát xạ positron với 18-fluorodeoxyglucose (FDG-PET) cũng được ghi nhận làm tăng nguy cơ ác tính.

Đánh giá phân tử (molecular assessment) trên mẫu bệnh phẩm FNA đã nổi lên như một công cụ hữu ích để giảm sự không chắc chắn trong chẩn đoán đối với các nhóm tế bào học không xác định (indeterminate cytologic categories) và hỗ trợ đánh giá nguy cơ ác tính trước phẫu thuật. Các xét nghiệm thường được sử dụng nhất hiện nay bao gồm phân tích vi mảng (microarray analysis) biểu hiện ARN thông tin (mRNA) của một số gen liên quan đến ung thư tuyến giáp và phân tích giải trình tự thế hệ mới (next-generation sequencing) các bảng đột biến gen phổ biến (ví dụ: BRAF, RET/PTC1, RET/PTC2, RAS, HRAS, NRAS, PAX8/PPAR gamma, PIK3CA). Tuy nhiên, do vẫn cần dữ liệu kết quả dài hạn về việc sử dụng xét nghiệm phân tử trong việc ra quyết định điều trị, bệnh nhân cần được tư vấn về những lợi ích và hạn chế tiềm năng của xét nghiệm này. Cũng giống như phân tích tế bào bệnh học có tầm quan trọng trung tâm trong quyết định phẫu thuật và thảo luận về phạm vi cắt tuyến giáp, việc giải thích các dữ liệu này không nên tách rời mà phải đặt trong bối cảnh các thông số lâm sàng quan trọng khác đã được mô tả.

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Trang Chủ